Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

TÂY TẠNG SẼ LẤY LẠI ĐỘC LẬP


TIBET WILL BE FREE
Ngưòi anh hùng yêu nước Tây Tạng tự thiêu, đứng dậy đi
chống Tàu cộng chiếm nước.

Bài của Hồ Trung Tú do anh Viet Đo chuyển đến.
Tô Vũ phụ đề
*****
Nhìn hình ảnh “ngọn đuốc” này mà thấy xót xa cho mình.. Đây mới chính là ngọn đuốc sống, ngọn đuốc sống thật sự của người Tây Tạng chống bạo quyén Tàu cộng chiếm nước , người anh hùng Tây Tạng đáng làm gưong cho chúng ta chống bạo tàn việt cộng. Các cường quốc hãy nhìn vào đây mà tự vấn lương tâm, hãy tự xấu hổ mang danh là cuờng quốc thế giới mà để bất công bạo hành trên thế giới., Dân Việt Nam hày nhìn vào đây đễ mà tự giải quyết, tự giải quyết vì đừng chờ đợi gì ở bọn cường qưốc chỉ biết quyèn lợi của chúng mà xu nịnh bọn tàu cộng, sự cai trị cuả việt cộng bằng công an tàn bạo, đọc ác, cướp đất của dân, bán đàn bà trẻ con làm nô lệ tinh dục; bán biển rừng đất của đất nước cho tàu cộng, và sẵn sàng dâng đất nước cho bọn tàu cộng để sống yên ổn cai trị, đào vét tài sản của đất nước, của nhân dân bỏ vào túi riêng của bọn chúng.

Quý độc giả hãy mở lại Mục 1-6 trong Cà kê số trước (35) để nghe lời kêu cứu của một sĩ quan cao cấp việt cộng về nguy cơ mất nước:
Mục 1-6 - Một sĩ quan cao cấp công sản vn công nhận nguy cơ mất nước

(Selectionner, bôi đen, link trên đây .Link thành đen. Bấm chuột phải vào link. Tableau mở ra. Bấm vào ouvrir le lien hypertexte)

Sau đây là những hình ảnh người ANH HÙNG tự thiêu, lửa cháy bao bọc khắp người mà vẫn chạy đi để chông quân xâm lăng tàu cộng xâm chiếm đất nước TÂY TẠNG.




Khi người tự thiêu đứng dậy đi
Khi người tự thiêu không ngồi, cũng không quỳ, mà đứng dậy đi!
Lửa đã cháy trên nóc nhà thế giới.
Đừng sợ em
Không ai chọn cái chết dữ vậy chỉ để dọa trẻ con
Chỉ để là run trái tim người phụ nữ
Nhất là khi đó là người Tây Tạng
Người Tây Tạng hiền lành
Người Tây Tạng mong manh
Xem con kiến cũng như con người
Xem cuộc đời như một thoáng mây bay.
Người Tây Tạng không nhìn ra ngoài
Người Tây Tạng chỉ nhìn vào trong
Tự vấn mấy ngàn năm về một kiếp nhân sinh
Sướng khổ thế nào cũng một mực tin bởi nhân duyên
Tin bởi chính mình mà đất nước tiêu vong
Bởi chính mình mà câu kinh cũng bị cấm
Gió đang hú gào trên đỉnh Himalaya
Khi Người tự thiêu không nằm, không ngồi, mà đứng dậy đi
Ngọn lửa đã đứng dậy đi
Ngọn lửa trên nóc nhà thế giới !
Hãy run lên và sợ hãi đi
Những tên nhân danh nhân dân
Nhân danh đủ thứ để cai trị nơi này.
Nhân loại đang đi về đâu ?
Người Tây Tạng cóc thèm cái hướng đi đó
Họ một mình một cõi quay vào trong
Lặng im nhìn mình.
lặng im hạnh phúc
Và họ mong manh dễ bắt nạt vô cùng.
Nhân loại đang đi về đâu
Hướng đi gì mà chỉ toàn rắc gieo nỗi khổ niềm đau.
Bất an triền miên
Bồn chồn cả trong giấc ngủ
Nỗ lực kiếm tiền rồi nỗ lực lấy tiền mua sức khỏe
Người Tây Tạng không thế
Họ biết lắng nghe sức khỏe ngay từ lúc sinh ra
Chứ không phải đến tuổi già mới hối hả
Một mình một hướng đi.
Và lửa đã cháy trên nóc nhà thế giới
Lửa sẽ lan đến tận Bắc Kinh.
Và đến tận New York, London
Cháy hết địa cầu.
Từ ngọn lửa người tự thiêu không ngồi không quỳ mà đứng dậy đi này !
Hãy sợ đi em
Hãy khóc thét đi em
Và truyền cả nỗi sợ ấy cho những tên đang ngồi ở Trung Nam Hải
Để chúng phải run lên
Cụp mắt xuống không dám nhìn
Vào một người Tây Tạng tự thiêu
không ngồi, không quỳ mà đứng dậy đi !
HỒ TRUNG TÚ

Thứ Sáu, 8 tháng 6, 2012

45 - 54, CHÍN NĂM KHÓI LỬA - BÀI SỐ 7


Tô Vũ

Tin triệt thoái Cao Bằng và đường thuộc địa số 4 (RC4) làm Chính phủ và Quốc hội Pháp lo ngại sợ hãi. Ngày 15-10-50, Thủ tướng Pleven cử một phái đoàn gồm Bộ trưởng Liên kết Letour-neau, tướng Juin và tướng Valluy sang Ðông Dương để điều tra.

Quốc hội họp phiên đặc biệt ngày 19-10-50.

Ngày 17-10-50, phái đoàn Letourneau tới Saigon. Phái đoàn được các nhà chức trách quân sự tức tốc trình bầy tình hình đặc biệt ở Bắc Việt.

Letourneau huỷ bỏ lệnh triệt thoái khỏi Lạng Sơn, nhưng lệnh [1] tới nơi quá chậm, cuộc triệt thoái đã khởi sự từ tối hôm trước.

Phái đoàn Letourneau tới Hànội giữa không khí chủ bại và hoảng sợ bao trùm khắp nơi. Những tin đồn, do Việt minh phao lên, là Hồ chí Minh hứa sẽ mang quân vào Hànội ăn Tết [2] làm các công chức Pháp lo sợ, phải tản cư gia đình của họ vào Sàigòn. Các thương gia và các kỹ nghệ gia dạm bán cửa hàng và các xưởng công nghệ. Hànội tổ chức đề phòng trường hợp bị vây hãm. Ðề nghị triệt thoái Hànội cũng được đệ trình phái đoàn.

Trước tình hình đó, để trấn an tinh thần binh sĩ và kiều dân Pháp, phái đoàn ra lệnh triệt để bảo vệ miền đồng bằng Bắc Việt, tổ chức các Ðoàn quân Lưu động để tiếp ứng những nơi bị vây hãm và cải tổ lại Bộ chỉ huy quân sự.

Tướng Marchand chỉ huy Hànội và đại tá Constans chỉ huy Lạng sơn bị mất chức, tướng Alessandri chỉ huy Bắc Kỳ xin thuyên chuyển về Pháp, tướng Boyer de la Tour được cử tạm thay thế Alessandri. Tướng Carpentier nhờ được sự che chở của tướng Juin nên không bị trừng phạt nhưng cũng bị mất chức.

Phái đoàn Letourneau về Pháp tường trình với thủ tướng Pleven, đề nghị thay thế tướng Carpentier và Cao uỷ Pignon. Ðồng thời Quốc hội khuyến cáo chính phủ giao trách nhiệm cả quân sự lẫn dân sự ở Ðông Dương vào tay một vị chỉ huy duy nhất. Chính phủ vội tìm người có đủ uy tín và khả năng để giao phó Ðông Dương vào tay người đó. Tướng Juin, tướng Koenig được mời nhưng đều từ chối, tướng De Lattre de Tassigny nhận lời.

De Lattre de Tassigny, 61 tuổi, đại tướng 5 sao, là một đại danh tướng của Pháp, từng chỉ huy Ðệ nhất Quân đoàn, từng chiến thắng Ðức trong Ðệ nhị thế chiến trên mặt trận Rhin và Danube. De Lattre tính tình hách dịch, thích lễ nghi quân cách, hay trừng phạt gắt gao các sĩ quan cấp dưới về những lỗi nhỏ mọn, hay giận dỗi, không vừa lòng việc gì thì để lộ ra mặt, thường hay khoe những chiến thắng cũ của mình.

Ngày 17-12-50, Bộ trưởng Letourneau và De Lattre cùng đáp phi cơ tới Sàigòn với các cộng sự viên mà De Lattre đã chọn như tướng Salan, tướng Cogny, đại tá Beaufre, cựu thống sứ Gautier, cựu quan cai trị Aurillac v.v...

Sau lễ bàn giao do Letourneau chủ toạ, ngày hôm sau De Lattre nhận được báo cáo của tướng Boyer de Latour ở Bắc Kỳ báo cáo triệt thoái khỏi đồn Ðình Lập, là một đồn quan trọng cách Lạng Sơn 40 cây số về phía đông nam, nằm giữa đường Lạng Sơn - Tiên Yên, ở ngã ba đường từ Phả Lại, Lục Nam, An Châu lên, tức là một đồn chống giữ cửa ngõ đồng bằng Bắc Việt.

De Lattre vội vã bay ra Hà Nội và ở luôn tại đó để trấn tĩnh nhân tâm và cải tổ lại quân đội, thay đổi một loạt các sĩ quan cao cấp, tạo lập các Toán quân Lưu động, mang quân từ miền Nam ra tiếp viện. De Lattre chặn đứng việc triệt thoái khỏi Tiên Yên, Móng Cáy mà Boyer de Latour, thi hành chương trình của tướng Carpentier để lại, định bỏ ngỏ cửa ngõ vào Hải Phòng cho Việt minh từ phía Lạng Sơn xuống.
                       
                               Trận đánhVĩnh Yên ngày15-1-51

                                       Việt minh thất bại


Ngày 15-1-51, Việt minh khởi sự chiến dịch Trần Hưng Ðạo, tức là chiến dịch Thu đông 51,với mục đích thực hiện lời hứa về Hànội ăn Tết của Hồ chí Minh. Mục tiêu của Việt minh là chiếm Vĩnh Yên trước rồi chiếm Hànội sau.

Việt minh tung 2 sư đoàn 308 và 304, khoảng 30 ngàn người, tiến vào Vĩnh Yên, chiếm đồn Bảo Chúc ở phía bắc Vĩnh Yên.

Tướng Salan bấy giờ giữ chức Chỉ huy Bắc Kỳ thay thế Boyer de Latour mà De Lattre cho về Pháp nghỉ. Salan liền gửi các Toán quân Lưu động do trung tá Vanuxem và đại tá Edon đến Vĩnh Yên để tiếp cứu, đồng thời cho quân nhảy dù và quân thiết giáp tiếp viện. Không quân được lệnh dùng bom na-pam (napalm), lần đầu tiên bom na-pam được sử dụng ở Ðông Dương.

Chiến sự tiếp diễn tại những ngọn đồi phía bắc Vĩnh Yên trong ba ngày liên tiếp. Việt minh thấy không thắng lợi liền rút về mạn Tam Ðảo, để lại 1.200 xác chết, 450 tù binh và nhiều khí giới.

Pháp đã tung vào trận địa 12.000 người, bắn 50 ngàn phát súng ca-nông 105 ly, 200 ngàn phát súng ca-nông 75, không quân xuất trận 250 lần ném bom na-pam. Pháp thiệt hại khoảng 600 người vừa chết, vừa bị thương, vừa mất tích.[3]

Việt minh đã tưởng tinh thần quân đội Pháp suy sụp sẽ hoảng sợ bỏ chạy trước sự tiến quân của họ như trận Ðông Khê trên đường Thuộc địa số 4 (RC4) nhưng không ngờ De Lattre sang đã làm thay đổi cục diện, nếu vẫn còn tướng Carpentier và Cao ủy Pignon điều khiển thì chiến dịch Thu đông 51 có thể mang lại thắng lợi cho Việt minh và Pháp có thể bỏ Hànội để Việt minh vào ăn Tết như Hồ chí Minh tuyên bố.

Tuy chặn được Việt minh trong trận Vĩnh Yên nhưng De Lattre rất lo ngại : khí giới, quân số, đồn phòng thủ, tất cả đều thiếu thốn. De Lattre đặt kế hoạch, một mặt yêu cầu Mỹ viện trợ khí giới, một mặt xây cất các đồn bê-tông thành vòng đai phòng thủ Hànội và Hải Phòng. Về quân số thì quân tiếp viện Pháp không đủ, mặc dầu De Lattre vừa được chính phủ Pháp "cho vay"  20.000 quân để lấp vào chỗ hổng thiếu hụt, cần phải tiến hành gấp việc đào tạo quân đội Việt Nam để bổ xung quân số.
Tướng Salan được cử thay thế De Lattre phụ trách việc hành quân để De Lattre đi Pháp và đi Mỹ cầu viện. Tướng De Linarès được cử giữ chức Chỉ huy Bắc Kỳ thay thế Salan.

Tình hình yên tĩnh trở lại khắp nơi, công cuộc xây cất các đồn bê-tông tiến hành gấp.

Tới hạ tuần tháng ba 1951 thì tin tức tình báo cho biết sư đoàn 308 Việt minh thấy xuất hiện tiến về phía Ðông Triều, Hòn Gay
                                       

              Trận Mạo Khê 30-3-51

Ngày 24-3-51, Uông Bí cách Hải Phòng 20 cây số về phía tây bắc, bị tấn công. Ðập nước cung cấp nước ăn cho Hải Phòng bị phá huỷ, đường xe lửa Hànội - Hải Phòng bị cắt nhiều nơi. Ðêm 30-3 đồn Mạo Khê bị tấn công. Ðồn Mạo Khê bảo vệ mỏ than Ðông Triều do một tiểu đoàn người Thổ trấn giữ, dưới quyền chỉ huy của đại úy Vi văn Toàn

Suốt từ 3 giờ sáng đến trưa ngày hôm sau, Việt minh tấn công nhiều đợt nhưng nhờ không quân và pháo binh can thiệp mạnh mẽ nên đồn vẫn giữ vững và đến 4 giờ chiều khi quân nhảy dù của đại tá Sizaire tới cứu viện, Việt minh rút lui bỏ lại hơn 1.000 xác chết, 400 tù binh bị bắt giữ và bỏ lại rất nhiều khí giới cá nhân. Pháp thiệt 600 người vừa chết vừa bị thương. Ðại uý Toàn[4] bị thương, De Lattre đích thân đến bệnh viện trao tặng huy chương Bắc đẩu bội tinh.

Sau trận Mạo khê, De Lattre lợi dụng chiến thắng để thuyết phục Bảo Ðại xúc tiến gấp việc thành lập quân đội Việt Nam. Ngày 19-4-51, De Lattre mời Thủ tướng Trần văn Hữu và các Bộ trưởng trong chính phủ Việt Nam lên Vĩnh Yên để thị sát chiến trường.

Tại đây De Lattre đọc một bài diễn văn chính trị quan trọng, xác nhận ý chí giúp Việt Nam hoàn tất nền độc lập, ca ngợi Bảo Ðại và chính phủ Trần văn Hữu.
    
                    
                               Bài diễn văn chính trị ngày 19-4-51
                                            của tướng De Lattre 
                   và việc thành lập Quân đội Quốc gia Việt Nam


Kính thưa Thủ Tướng,
Thưa quý vị Bộ trưởng,

(...) Trận Vĩnh Yên là trận đánh đầu tiên của Việt minh ở đồng bằng. Say sưa với những chiến thắng ở thượng du, quânViệt minh tràn xuống đồng bằng hy vọng với chiến thuật biển người làm tan vỡ hàng rào phòng thủ mỏng manh của chúng ta, đè bẹp Ðoàn quân Lưu động mới thành lập của chúng ta, để tiến vào Hànội trước ngày Tết.

Thật là một trận đánh quyết liệt và gay go mà chúng ta phải đương đầu trong lúc đang tái tạo và thiếu thốn quân số. Chúng ta đã chiến thắng vì chúng ta không có quyền thua, vì đó là tương lai của Việt nam, còn hay mất (...)

Thưa Thủ Tướng,

(...) Chiến thắng vừa qua đã mang lại đầy hy vọng cho Việt Nam. Chiến thắng đó đã làm sáng tỏ giá trị và hiệu quả của những binh sĩ quý quốc. Chiến tranh tàn ác này đã làm nổi bật lên những khả năng quân sự đã bao lần tô điểm lịch sử quý quốc trong bao thế kỷ chiến đấu dành Tự do Ðộc lập.

(...) Những chiến sĩ quốc gia Việt Nam nổi bật trong những trận Vĩnh Yên, Mạo Kkê, Bến Tam đã làm tăng thêm lòng tin tưởng của tôi vào sự hùng cường của Việt Nam trong tương lai, bởi vì những thanh niên Việt Nam ngày nay đặt dưới sự chỉ huy của người Pháp sẽ là những thanh niên phục vụ trong quân đội Việt Nam mai này. Những thanh niên đó đã chứng tỏ cho thế giới biết là quân cộng sản cuồng nhiệt không thể giữ độc quyền can đảm và độc quyền thắng lợi. Sự mong muốn tha thiết của chúng ta là thấy những thanh niên Việt Nam càng ngày càng đông, từ khắp các làng mạc thành thị, tới gia nhập vào Quân đội Quốc gia đang thành lập, đặt nặng giá trị của họ vào cán cân đấu tranh cho Tổ quốc.

(...) Nếu nước Pháp chấp nhận một sự cố gắng như vậy [5] không phải chỉ vì những năm chúng ta đã cùng chung sống, - tôi cảm động nghĩ đến những người tình nguyện đã từ quý quốc, hai lần đến đất nước chúng tôi tử trận cạnh những người lính Pháp, -  mà cũng vì sự chắc chắn rằng Chính phủ quý quốc dưới uy quyền lãnh đạo của Hoàng Ðế Bảo Ðại đại diện cho một dân tộc lành mạnh, quyết tâm từ chối sự nô lệ, và chính phủ đó đã cố gắng khắp nơi để làm vững chắc một lý tưởng khả dĩ đoàn kết cả một dân tộc.

Thưa Thủ Tướng

Người ta nói với tôi rằng một số người Việt Nam cho rằng những lô-cốt đang xây cất là biểu hiệu một sự chiếm đóng lâu dài của quân đội Pháp ở Việt Nam



Thưa Thủ Tướng, không phải thế !

Tôi tới đây để kiện toàn nền Ðộc lập của quý quốc chứ không phải để hạn chế. Quân đội Pháp tới đây chỉ để chống giữ nền Ðộc lập đó. Những đồn bót, lô-cốt phòng thủ xây dựng ngày nay sẽ được trao cho Quân đội Việt Nam khi hùng mạnh. Những thắng lợi của quân đội chúng tôi ngày nay bảo đảm lãnh thổ của quý vị đồng thời tạo lập Quân đội Quốc gia để ngày sau giữ vững mãi nền Ðộc lập đó.

Chúng ta đừng mắc lừa kẻ địch đang tìm cách chia rẽ những sự cố gắng của chúng ta và đang tuyên truyền là những quân nhân Pháp tới giúp đỡ quý vị chống khỏi sự nô lệ lại là những cản trở cho tự do của quý vị.

(...) Bên kia làn ranh, chỉ cách nơi đây vài cây số, có những người dân đang đau khổ. Phần đông họ bị kìm giữ dưới sự khủng bố, trái với ý muốn của họ. Cũng có một số người tin vào những sự tuyên truyền dối trá và chọn một con đường không được tốt đẹp để thực hiện những nguyện vọng sâu xa của dân tộc Việt Nam.

(...) Những nguyện vọng đó, quý Chính phủ dưới quyền lãnh đạo sáng suốt của Hoàng Ðế Bảo Ðại, đã đề nghị một con đường khác để đạt tới. Quốc gia Việt Nam đã Tự do Ðộc lập và có chủ quyền đầy đủ. Trong khối những quốc gia dân chủ, quốc gia Việt Nam có những liên kết thân hữu quý báu để trở thành một quốc gia thịnh vượng và hạnh phúc mai này một khi hoà bình trở lại.

Người Việt Nam không thể không hiểu những điều đó và không thể không đoàn kết chung quanh Hoàng Ðế và quý Chính phủ để chiến đấu thực sự chống lại sự áp chế của nền độc tài.



                                                     * * *

Sau bài diễn văn Vĩnh Yên, Bảo Ðại và chính phủ Hữu đồng ý với De Lattre xúc tiến việc thành lập Quân đội Việt Nam. Lệnh động viên các sĩ quan trừ bị được ban bố, đại tá Nguyễn văn Hinh được cử làm thiếu tướng Tư lệnh Quân lực Việt Nam. Trường sĩ quan Nam Ðịnh dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Cousteau và trường sĩ quan Ðà Lạt dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Lefort, được mở để đào tạo các sĩ quan Việt Nam.

Tiểu đoàn Việt Nam đầu tiên được thành lập với những sĩ quan và hạ sĩ quan chuyển từ Trung đoàn 1 Khinh binh Pháp, trong đó có trung úy Bernard de Lattre chỉ huy một đại đội, Bernard là con trai tướng De Lattre.

De Lattre mở những cuộc hành quân lớn, Méduse và Reptile, vào khu vực phía nam đường số 5, vùng Kiến An, Ninh Giang, Kẻ Sặt, quân Việt minh bị thiệt hại nhiều.


                                      Mặt trận Sông Ðáy 29-5-51
                                        Bernard de Lattre tử trận

Ngày 29-5-51, mặt trận Sông Ðáy bùng nổ. Các đơn vị của 3 sư đoàn Việt minh 304, 308 và 320 dưới sự chỉ huy của Vương thừa Vũ, có những sạ thủ trọng pháo gốc nguời Ðông Ðức và Tiệp Khắc sang trợ giúp Việt minh, bất ngờ tấn công vào Phủ Lý và Ninh Bình làm Pháp lúng túng.

  
Việt minh chuyển quân bí mật đến nỗi cơ quan tình báo Pháp ở Hànội và đại tá Gambiez, Chỉ huy khu vực đó, đều không hay biết gì để đề phòng. Ðây là trận lớn thứ ba của Việt minh đánh vào đồng bằng. Mặt trận dài khoảng 100 cây số, trọng tâm là Ninh Bình.

Mặt trận Sông Đáy 29-5-51

Cuộc tấn công của Việt minh khởi sự đêm 28 rạng ngày 29-5-51. Sư đoàn 304 và sư đoàn 308 từ phía tây tới, vượt qua sông Ðáy, tấn công Phủ Lý và Ninh Bình. Trong lúc đó, 5.000 quân du kích địa phương phục kích đoàn quân tiếp viện của Pháp trên đường thuộc địa số 10 từ Hànội xuống. Sư đoàn Việt minh 320  từ Thanh Hóa lên đánh mạn Ninh Bình rồi tạt sang đánh địa phận Phát Diệm. Trung đoàn 64 và 42 quấy rối mạn Nam Ðịnh và Thái Bình để cầm chân quân Pháp không sang mạn sông Ðáy tiếp viện được.

Tới sáng ngày 30-5-51 thì vài đồn nhỏ của Pháp bị tràn ngập. Nhà thờ Ninh Bình bị Việt minh chiếm sau khi một đoàn biệt kích Pháp 90 người chống giữ nơi đó bị tiêu diệt gần hết.

Tối 30 rạng ngày 1-6-51 Việt minh tấn công hai ngọn núi trong thị trấn Ninh Bình. Trung uý Bernard de Lattre, con trai của tướng De Lattre, chỉ huy một đoàn khinh binh người Việt Nam trấn giữ ngọn núi phiá tây Ninh Bình, bị trúng đạn moọc-chi-ê tử trận. Chiến sự tiếp diễn trong 2 ngày đến khi quân tiếp viện của De Linarès kéo đến phản công, Việt minh mới qua sông Ðáy rút về phía núi.

Tướng De Lattre đau đớn đưa xác con về Pháp chôn cất tại một làng vùng Vendée.
                                   

                                      Diễn văn của De Lattre
                           tại trường Chasseloup Laubat, Saigon

                       kêu gọi thanh niên VN nhập ngũ chống cộng.


Tháng 7-1951, nhân ngày phát phần thưởng tất niên cho học sinh trường trung học Chasseloup Laubat ở Sàigòn, De Lattre đọc một bài diễn văn chính trị kêu gọi thanh niên Việt Nam nhập ngũ chống cộng.

De Lattre nói :

(...) Nếu các em là cộng sản, các em hãy đi theo hàng ngũ Việt minh, ở đó có những người đang chiến đấu cho một nguyên nhân xấu. Nhưng nếu các em là những người quốc gia yêu nước, các em hãy chiến đấu cho tổ quốc của các em, vì chiến tranh này là chiến tranh của các em. Các em hãy xây dựng quân đội quốc gia để thay thế dần quân đội Pháp trong những nhiệm vụ chính mà họ đang đảm nhiệm ngày nay (...)

Hỡi các thanh niên ưu tú của Việt Nam mà tôi thương mến như các thanh niên của đất nước tôi, đã đến lúc các em phải chống giữ Tổ quốc của các em. Tôi tin tưởng rằng các em sẽ giữ vững được nước Việt Nam."



Sau khi dự lễ ngày 14-7-51 tổ chức trọng thể tại Hà nội với sự hiện diện của Bảo Ðại từ Ðà Lạt ra gắn Huân chương đệ nhất đẳng cho De Lattre, tướng De Lattre về Pháp chữa bệnh và sang Hoa Kỳ cầu viện khí giới.

Ngày 14-9-51, De Lattre được Tổng thống Truman, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và tướng Collins Tổng Tham mưu Quân lực Hoa Kỳ tiếp. De Lattre được Mỹ viện trợ rất nhiều chiến cụ và khí giới : 9.000 súng tiểu liên, 500 đại liên, 5.000 xe chuyên chở đủ loại, 600 máy truyền tin và các xe chiến đấu, máy bay, tàu hải quân, tàu sửa chữa, v.v...

Tháng 10-1951, De Lattre trở lại Ðông Dương.

Trong lúc De Lattre vắng mặt Việt Nam thì nhiều biến chuyển đã xảy ra.


                               Tướng Chanson và Thủ hiến

                                     Thái lập Thành bị ám sát.



 Ngày 31-7-51, tướng Chanson Chỉ huy quân đội Pháp tại Nam Kỳ và Thủ hiến Nam Kỳ, Thái lập Thành, bị ‘một khủng bố tự sát’ (kami-kaze)ám sát chết tại Sadec.

Trong một buổi lễ ở Sadec, khi Chanson và Thái lập Thành vừa từ xe hơi bước xuống để lên khán đài thì có một người Việt Nam mặc binh phục tiến lại gần, mở khoá dây thắt lưng, một tiếng nổ vang lên làm người đó đứt đôi người, phía dưới tan nát, phía trên mình và đầu vẫn nguyên vẹn. Chanson bị các mảnh lựu đạn ghim đầy đầu chết liền tại chỗ, Thái lập Thành cũng chết ngay. Một đại tá Pháp tên là Ver-thanon bị trọng thương.

Sau khi Chanson chết thì tướng Salan được cử đảm nhiệm luôn chức vụ Uỷ viên Chính phủ và Chỉ huy quân Pháp tại Nam Kỳ.


                                 Trận Nghĩa lộ ngày 2-10-51,

                                 Việt minh bị thất bại nặng.



Tới hạ tuần tháng 9-1951, tin tình báo cho biết Việt minh đang chuyển quân về phía Nghĩa Lộ để uy hiếp đồn đó. Nghĩa Lộ là một đồn cách đông bắc Sơn La khoảng 100 cây số và cách Yên Báy khoảng 80 cây số về phía tây nam. Nghĩa Lộ nằm trong một thung lũng rộng lớn phì nhiêu có khoảng 40 ngàn dân, ngay trên trục giao thông của Việt minh chuyển vận đồ tiếp tế từ bên Tàu viện trợ qua Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Báy, Nghĩa Lộ, Sơn La, Ðiện biên Phủ.


Việt minh mở chiến dịch Lý Thường Kiệt chủ đích nắm tất cả vùng tây bắc Bắc việt. Nghĩa Lộ là trạm đầu và cũng là một vựa thóc.

Tới cuối tháng 9-51 thì tin chắc chắn cho biết là trung đoàn 141 và  trung đoàn 209 thuộc sư  đoàn 312 của Việt minh đã tiến
                       
                                                 
                                      Trận Nghĩa Lộ ngày 02-10-1951

tới Nam Muội cách Nghĩa Lộ khoảng 10 cây số về phía bắc. Trung đoàn 165 cũng thuộc sư đoàn 312 đã tiến tới Ca Vinh cách Nghĩa Lộ 40 cây số về phía đông.

Nghĩa Lộ có một tiểu đoàn người Thái trấn giữ, khoảng chừng 1.000 binh sĩ, trong số đó có 150 sĩ quan và hạ sĩ quan Pháp, cộng với 60 lính pạc-ti-dăng người Nùng. Ngày 2-10-51, khi Nghĩa Lộ bị uy hiếp mạnh, một tiểu đoàn dù, do đại úy Gauthier chỉ huy, được thả xuống Gia Hội cách Nghĩa Lộ 20 cây số về phia bắc để tiếp viện. Nhiệm vụ của tiểu đoàn này là phá rối trung đoàn 141 và 209 để cầm chân và làm giảm nhẹ áp lực của Việt minh vào Nghĩa Lộ. Bốn giờ sáng ngày 3-10-51, trung đoàn 141 Việt minh khởi sự tấn công vào đồn hạ, phía nam trung tâm Nghĩa Lộ. Thiếu tá Girardin, trưởng đồn, tử trận, nhưng đồn vẫn giữ vững không bị thất thủ sau nhiều đợt xung phong của Việt minh. Về phía bắc, tiểu đoàn dù của Gauthier, bị đánh gắt, phải rút về giữ thế thủ ở đèo Gia Hội. Sáng ngày 4-10, một tiểu đoàn dù do đại úy Raffali chỉ huy được thả xuống Gia Hội để phụ lực với Gauthier.

Suốt ngày 3 đến sáng ngày 4-10-51, Việt minh tấn công đồn Sơn Búc, cách Nghĩa Lộ khoảng 10 cây số phía đông nam, nhưng vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của đại uý Bes de Berc và toán lính Nùng, với sự yểm trợ của không quân, nên 4 giờ sáng ngày 4-10 Việt minh rút lui.

Ngày 5-10-51, Việt minh lại tấn công vào Nghĩa Lộ, đồn nam. Sau 3 giờ tấn công vô hiệu, Việt minh rút lui để lại nhiều xác chết. Sáng 6-10, một tiểu đoàn viện binh nữa được thả dù xuống Nghĩa Lộ. Sau khi tấn công Sơn Búc vô hiệu một lần nữa, tới ngày 8-10, Việt minh bỏ cuộc, rút hẳn ra khỏi Nghĩa Lộ.

Sự thiệt hại, theo con số của Pháp đưa ra, thì Việt minh thiệt hại khoảng 1.000 người chết, 2.500 người bị thương, phía Pháp khoảng 300 người chết, bị thương và mất tích, trong số có 11 sĩ quan.

23-10-1951, De Lattre trở lại Ðông Dương sau 3 tháng vắng mặt. Tuy thắng lợi trong những trận Vĩnh Yên, sông Ðáy, Nghĩa Lộ, nhưng tại Pháp các nghị sĩ đã sầm sì chê trách De Lattre thụ động, không có thế công mà chỉ có thế thủ, chờ Việt minh tấn công rồi chống đỡ. Mặt khác cuộc bàn cãi sắp tới tại Quốc hội Pháp về dự chi ngân sách chiến tranh Ðông Dương làm chính phủ Pháp cần phải có một thắng lợi quân sự để hỗ trợ việc chấp thuận nguyên vẹn, không xén bớt, ngân sách do chính phủ đưa ra.

Những chi phí về chiến tranh Ðông Dương càng ngày càng nặng và càng đào sâu túi tiền của dân Pháp, hơn nữa, những chi phí đó còn vượt qua những chi phí kiến thiết mà nước Pháp đang cần.

Chi phí về chiến tranh Ðông Dương

1945 : 3 tỷ 2 phật lăng Pháp

1846 : 27 tỷ

1947 : 53, 3 tỷ

1948 : 89,7 tỷ

1949 : 130, 4 tỷ

1950 : 201 tỷ

1951 : 308 tỷ


Chi phí về kiến thiết xứ sở Pháp

1945 : 11,2  tỷ phật lăng Pháp

1946 :  37,5 tỷ

1947 : 73,6 tỷ

1948 : 84,4 tỷ

1949 : 114 tỷ

1950 : 117,5 tỷ

1951 : 137,9 t

Do đó, De Lattre phải cần một hành động hiệu quả và một thắng lợi để có tiếng vang gây thiện cảm ở Quốc hội Pháp.

                       Pháp tấn công Hoà Bình ngày 9-11-51
De Lattre ra lệnh cho De Linarès và Salan tấn công vào Chợ Bến và Hoà Bình.

Sáng sớm ngày 9-11-51, dưới quyền chỉ huy của tướng De Linarès, đoàn quân thiết giáp của đại tá De Castries, toán quân biệt kích của đại tá Dodelier cùng với đoàn Lưu động Mường của đại tá Vanuxem và một tiểu đoàn dù nhẩy thẳng xuống trận địa, ba bốn mặt cùng tiến quân vào Chợ Bến.

Việt minh bị tấn công bất ngờ nên thiệt hại nhiều, bỏ chạy không giao chiến. Ðến 5 giờ chiều cùng ngày 9-11 thì Pháp kiểm soát được khắp vùng Chợ Bến, khoảng 100 cây số vuông

Bốn ngày sau, ngày 13-11-51, Salan đích thân điều khiển cuộc tiến chiếm Hoà Bình. Cũng nhảy dù, cũng biệt kích và quân Lưu động, như hôm tấn công vào Chợ Bến, Hoà Bình bị chiếm dễ dàng, không có sự kháng cự của Việt Minh.

Ðoàn xe thiết giáp và xe ủi đất do hai tiểu đoàn công binh điều khiển tiến theo đường số 6 từ Hà Ðông qua Xuân Mai tới Hoà Bình, dài khoảng 60 cây số, mở  đường cho bộ binh.

Ngày 15-11-51, Salan tuyên bố Pháp kiểm soát được Hoà Bình, khoá cửa ngõ tiếp tế và giao thông của Việt minh giữa đồng bằng và Việt Bắc.


                                              * * *
                                  Pháp tấn công Hoà Bình ngày 9-11-51

Ba tuần lễ sau, Việt minh kéo các sư đoàn thiện chiến 304, 312 và 308 tới. Hai sư đoàn 304 và 312 có nhiệm vụ đánh các đoàn tiếp tế từ Hà nội lên trên đường thuộc địa số 6, hoặc bằng đường thủy trên sông Hồng Hà. Sư đoàn 308 có nhiệm vụ đánh vào Hoà Bình.


                                   Ðồn Tu Vũ bị tấn công tối 10-12-51
Tối ngày 10-12, trung đoàn 88 Việt minh tấn công đồn Tu Vũ là một đồn phòng thủ vòng đai, cách phía bắc Hoà Bình khoảng 10 cây số, do đại úy Levreur chỉ huy một tiểu đoàn Ma-rốc trấn giữ.

Bốn khẩu trọng pháo 75 của Việt minh khởi sự lúc 21 giờ, bắn dữ dội vào đồn, tiếp theo là biển người tràn vào.

Những trận đánh xáp-lá-cà làm quân Pháp thiệt hại nhiều. Tới quá nửa đêm, khoảng 100 quân Ma-rốc cùng với hai chiến xa mở đường, bỏ đồn chạy ra ngoài, kêu trọng pháo ở Hoà Bình và ở các đồn lân cận bắn tới. Hơn 4.000 trái đạn ca-nông đủ loại dội vào đồn Tu Vũ. Quân Việt minh bị thiệt hại nhiều, phải rút lui, không chiếm được đồn. Sáng hôm sau khi quân Pháp trở lại Tu Vũ thì chung quanh đồn khoảng 200 xác chết nằm la liệt khắp nơi ngoài vòng rào kẽm gai.

Ngày 29-12-51, trên đường thuộc địa số 6, một đại đội lê-dương bị phục kích bất ngờ làm chết 130 người trong số 200 người. Tin thiệt hại đó báo về Pháp trong lúc Quốc hội đang bàn cãi về ngân khoản chiến phí ở Ðông Dương làm những nghị sĩ chống chiến tranh lên diển đàn đả kích tơi bời Tổng trưởng Letourneau. Trong số các nghị sĩ lên diễn đàn đả kích, cựu Thủ tướng Daladier đề nghị Quốc hội ngưng bàn cãi, rút hết quân Pháp ở Bắc vào Nam, rồi đưa vấn đề Ðông Dương ra Hội đồng Liên hiệp Quốc để điều đình một cuộc ngưng chiến với Việt minh.

Tuy có nhiều sự phản đối nhưng hai ngày sau ngân sách cũng được Quốc hội chuẩn y, chi phí chiến cuộc Ðông Dương được chấp thuận.


Tướng De Lattre qua đời ngày 12-12-51

Lúc bấy giờ bệnh tình của tướng De Lattre đã vô hy vọng cứu chữa. Từ nhiều tháng nay, De Lattre bị ung thư chân. Công việc điều khiển Ðông Dương, những hành trình qua Pháp và qua Mỹ để xin viện trợ, sự đau buồn vì con chết trận, đã làm De Lattre kiệt sức dần, bệnh tình càng ngày càng trầm trọng, đến ngày 19-11-51, De Lattre về Pháp để vào bệnh viện giải phẫu. Ngày 7-12-51 De Lattre bất tỉnh, đến ngày 12-12-51 thì từ trần. Chính phủ Pháp truy tặng chức Thống chế và làm lễ quốc táng.

Ngày 8-1-52, tướng Salan được chính thức cử giữ chức vụ Quyền Chỉ huy tối cao Quân đội viễn chinh thay tướng De Lattre. Tổng trưởng Letourneau được cử giữ chức vụ Cao uỷ, có cựu Thống sứ Gautier phụ tá.



Xóm Pheo bị tấn công ngày 8-1-52



Cũng ngày đó, trên đường thuộc địa số 6, Xóm Pheo, một tiền đồn cách 5 cây số về phía bắc Hoà Bình, do thiếu tá Roux và tiểu đoàn 2 Lê-dương trấn giữ, bị trung đoàn 102 Việt minh tấn công. 50 khẩu trọng pháo 75 và SKZ không giật của Việt minh nhả đạn vào đồn. Ðến 1 giờ sáng thì Việt minh ùa lên dùng lựu đạn và mìn, tràn vào các điểm phòng thủ.

Các đồn Pháp bắn yểm trợ 700 trái trọng pháo 105 vào chung quanh đồn trong thời gian 15 phút, từ lúc Việt minh xung phong cho đến lúc Việt minh tràn vào trong đồn và trận xáp-lá-cà xảy ra, đến sáng thì Việt minh rút lui bỏ lại nhiều xác chết và khí giới, Pháp thiệt hại nhiều.



Mặc dầu thất bại trong hai trận tấn công đồn Tu Vũ và Xóm Pheo, Việt minh cũng không rời bỏ khu vực Hoà Bình. Một mặt, Việt minh dùng chiến thuật công đồn đả viện và thường xuyên uy hiếp các đường tiếp tế thuỷ, bộ để cầm chân số lớn lính Pháp[6] , một mặt Việt minh mở một mặt trận khác về phía Phát Diệm, với các sư đoàn 320, 326, làm Pháp phải chia quân ra nhiều nơi, cạn hết số quân dự trữ, bộ Chỉ huy Pháp lúng túng lo ngại.





Pháp rút quân khỏi Hoà Bình

ngày 22-2-52

Vì vậy, tối ngày 1-1-52, bộ Chỉ huy Pháp quyết định rút hết quân khỏi Hoà Bình và khỏi đường số 6.

Trung tá Ducourneau và đại tá Gilles chỉ huy cuộc triệt thoái. Bẩy giờ tối ngày 22-2-52, cuộc rút quân khởi sự. Hơn 1.000 dân Mường và 20.000 binh sĩ cùng các chiến cụ, đạn dược khí giới, vượt qua sông Hoà Bình, rút về Hànội bằng đường số 6.

Sau hai ngày, ba đêm, đoàn quân về đến nơi yên ổn. Ðoàn quân hậu tập bảo vệ cuộc rút lui bị Việt minh chận đánh thiệt hại khoảng 300 người chết và bị thương, bộ Chỉ huy Pháp mừng vì sự tổn thất nhẹ nhàng như vậy.

Trận Hoà Bình kết thúc với kết quả như sau :

- Phía Pháp, 900 người chết và mất tích trong số có 33 sĩ quan, 2.300 bị thương trong số có 47 sĩ quan.

- Phía Việt minh, 3.400 chết, 300 bị bắt làm tù binh, khoảng 7.000 bị thương[7]



Sau cuộc rút lui khỏi Hoà Bình, Pháp mở nhiều cuộc hành quân trong vùng đồng bằng để càn quét. Chương trình của Salan và Letourneau là quét sạch quân Việt minh trong khu tam giác đồng bằng, xúc tiến việc tổ chức quân đội quốc gia Việt nam với sự viện trợ của Mỹ, thành lập đoàn Quân thứ Lưu động (GAMO) để phối hợp với quân đội việc tổ chức an ninh xã hội các vùng đã được càn quét, rồi trao trả cho Thủ hiến Bắc Việt Nguyễn văn Tâm để tổ chức việc hành chánh.

Tới cuối tháng giêng 1952, viện trợ Mỹ cặp bến Sàigòn đã lên tới 120.000 tấn chiến cụ, trong số có 178 máy bay, 170 tàu thuỷ đủ loại, xe thiết giáp, đạn dược và dụng cụ truyền tin.



Chiến sự từ 16-2-52 tới 12-4-52



Từ ngày 16-2-53-2 đến ngày 12-4-52, trong vùng tứ giác Tháibình, Nam Ðịnh, Phủ Lý, Hưng Yên, Ninh Giang, 15 tiểu đoàn bộ binh Pháp hợp lực với hải quân và không quân lùng đánh các trung đoàn 48, 52, 64 thuộc sư đoàn 320 của Việt minh trong các cuộc hành quân Cra-chin, Ouragan, Amphibie, Mercure, do tướng De Berchoux và tướng De Linarès chỉ huy. Theo thống kê của Pháp thì, - phía Việt minh bị thiệt hại hơn 2.000 người chết, hơn 5.000 bị bắt làm tù binh trong số có 50 sĩ quan, hơn 4.000 bị thương, - phía Pháp, 1.700 người chết, bị thương và mất tích.

Tiếp đó tướng Cogny với 15 tiểu đoàn trong các cuộc hành quân Porto, Polo, Turco ở vùng Bắc Ninh, Hải Dương, chạm súng với trung đoàn 98 của Việt minh, gây tổn thất thiệt hại nặng cho trung đoàn này.

Theo thống kê của Pháp : - phía Việt minh, 900 chết trong có 10 sĩ quan, 1.200 tù binh (trong có 68 sĩ quan), - phía Pháp : 60 chết, 260 bị thương và 30 mất tích.



Việt minh tấn công Nghĩa Lộ lần thứ hai,

Nghĩa Lộ bị thất thủ ngày 18-10-52

Sau vụ tấn công thất bại hồi tháng 10-1951,Việt minh vẫn không bỏ ý định chiếm Nghĩa Lộ là nút chặn quan trọng trên đường tiếp tế vùng tây bắc Bắc Việt, vì vậy tháng 10 năm 1952, Việt minh lại kéo các sư đoàn thiện chiến 308 và 312 về khu vực đó.

Thị trấn Nghĩa Lộ nằm giữa một thung lũng rộng lớn có đông đúc dân cư và có hai đại đội trấn giữ, chia ra đồn Thượng trên ngọn đồi cao nhòm xuống thị trấn và đồn Hạ, một đồn thấp nằm ngay trong thị trấn. Ngày 4-10-52, sau khi nhận thấy những dấu hiệu hoạt động gia tăng của Việt minh trong vùng, bộ Chỉ huy Pháp gửi một toán quân Ta-bo đến Nghĩa Lộ để tăng cường. Ngày 14 và 15 những đồn bót nhỏ về phía đông, ven sông Hồng Hà phải rút về Nghĩa lộ vì áp lực gia tăng của Việt minh. Ngày 16-10, đồn Gia Hội ở cách 20 cây số về phía bắc Nghĩa Lộ báo tin là bị cô lập. Ngày 16-10, De Linarès vội thả một tiểu đoàn dù do đại tá Bigeard chỉ huy xuống đồn Tu Lệ, cách Gia Hội 10 cây số về phía tây tức là cách Nghĩa lộ 30 cây số. Tu Lệ là một đồn nhỏ có một tiểu đội lính Thái trấn giữ nằm trên ngã ba đường, một đường xuống Nghĩa Lộ (đông nam), một đường về Sơn La (tây nam), một đường lên Thân Uyên, Quỳnh Nhai (tây bắc).

 5 giờ chiều ngày 17-10-52, tất cả hoả lực trọng pháo của sư đoàn 308 Việt minh đổ vào đồn Nghĩa Lộ, tiếp theo là đoàn xung phong với súng SKZ và mìn, băng-ga-lo phá hàng rào, phá tường đồn, sau cùng là biển người tràn vào những lỗ hổng đã phá được, rồi những trận giáp-lá-cà bằng dao găm, lưỡi lê cho đến lúc đại đội Pháp và Thái trấn giữ, đồn Thượng bị tiêu diệt hết. Ðến nửa đêm, đồn Hạ cũng bị tấn công theo chiến thuật đó. 9 giờ sáng ngày 18-10, Việt minh hoàn toàn chiếm được hai đồn bảo vệ. Nghĩa Lộ bị thất thủ.







Na San trở thành tiền đồn



Sau khi thất bại ở Nghĩa Lộ, Salan quyết định tăng cường Na San để chống trả với Việt Minh trong vùng tây bắc và cũng để bảo vệ lãnh thổ dân tộc Thái đã từ lâu có những liên lạc trung thành với Pháp mà Pháp không thể rời bỏ.

Na San là tên một làng Thái ở giữa một thung lũng dài 5 cây số, rộng 2 cây số, chung quanh có núi đồi cao bao bọc, cách Hà nội 190 cây số theo đường thẳng, khoảng 40 phút đi bằng máy bay. Dân cư thưa thớt, toàn người Thái sống về nghề ruộng rẫy. Giữa lòng chảo Na San có một phi đạo dài một cây số dùng cho máy bay hai động cơ Dakota lên xuống được. Na San nằm trên tỉnh lộ số 41 nối liền Lai Châu, Ðiện Biên qua Sơn La, Mộc Châu xuống Thanh Hóa hoặc sang Hoà Bình, vì vậy vị trí Na San quan trọng trong việc tiếp tế bằng đường bộ cho khu vực Thái và trấn giữ vùng Thượng Lào.

Ðầu tháng 11-1952, một cầu không vận ngày đêm hoạt động, chuyên chở các đồ tiếp tế đạn dược, lương thực, xe ủi đất, hàng ngàn tấn giây kẽm gai và lừa ngựa[8] từ Hà nội lên Na San. Hai đại đội công binh và hàng ngàn phu phen phục dịch gấp rút xây đắp các đường hầm giao thông và trú ẩn, xây cất 30 điểm tựa chung quanh lòng chảo, trên những ngọn đồi núi, để bảo vệ phi trường Na San. Ðại tá Gilles chỉ huy 8 tiểu đoàn và 4 giàn trọng pháo 105, có nhiệm vụ bảo vệ Na San.

Ngày 29-11-52, tiền quân Việt minh tiến gần đến Na San để thử sức những tiền đồn Pháp ngoài vòng đai. Không quân Pháp ném bom vào các điểm nghi ngờ có Việt minh trú ẩn. Salan lo ngại, gửi thêm hai tiểu đoàn dù và 2 giàn trọng pháo 105 ly lên tăng cường, ra lệnh cho Gilles cố thủ không để mất điểm tựa nào, cũng như không được để Việt minh tiến gần đến phi đạo dưới tầm trọng pháo.

Ðêm 31-11 rạng ngày 1-12-52, Việt minh ồ ạt tấn công vào các điểm tựa phía đông bắc, đợt nọ liên tiếp đợt kia xung phong chiếm được điểm tựa số 24 do trung úy Pipart phụ trách với một đại đội lính phụ lực Thái và lính Ma-rốc. Tới gần sáng nhờ trọng pháo và không quân yểm trợ, Gilles phản công với những đơn vị dự trữ, Việt minh rút lui, Gilles lấy lại được đồn.

Ðêm hôm sau, 11 tiểu đoàn Việt minh ồ ạt tấn công vào hai đồn chính bảo vệ Na San. Từ 9 giờ đêm đến 7 giờ sáng, nhờ thời tiết tốt nên máy bay Pháp thả hoả châu chiếu sáng khắp trận địa, liên tiếp ném bom và bắn liên thanh xuống vị trí Việt minh, đồng thời các giàn trọng pháo nhả đạn chung quanh đồn. Trong đồn thì lính cố sức cầm cự, Việt minh thiệt hại nhiều mà không chiếm được đồn, đến sáng rút lui bỏ lại nhiều khí giới và 500 xác chết chung quanh các hàng rào dây thép gai.

Những ngày sau,Việt minh biết là vấp phải sức kháng cự mạnh mẽ, nếu tiếp tục tấn công thì thất lợi, nên rút lui khỏi Na San không trở lại nữa.

Salan ăn mừng thắng trận, vui mừng với số quân ít ỏi (12 tiểuđoàn) mà đương đầu được với 3 sư đoàn địch và còn làm cho địch bị thiệt hại nặng nề.

Na San giữ vững đến tháng 8 năm 1953 thì tướng Navarre ra lệnh triệt thoái rút về Ðiện Biên Phủ. Navarre cho rằng với sự phòng thủ Ðiện Biên mạnh mẽ và hùng hậu, nếu Việt minh đụng vào thì sẽ bị thảm bại chua cay hơn nhiều.

Trong khi Salan tăng cường phòng thủ Na San đề phòng Việt minh kéo quân tới tấn công địa điểm đó, thì đêm hôm17-11-05 Mộc Châu bị thất thủ.

Mộc Châu là một thị trấn ở cách Na San 80 cây số về phía Nam, nằm trên đường hàng tỉnh số 41 từ Hoà Bình lên Sơn La, Lai Châu, trấn giữ con đường qua Xiêng Khoang vào xứ Lào. Mộc Châu có một tiểu đoàn Ma-rốc với số quân phụ lực người Thái. Ðêm 17 rạng ngày 18-11, đồn Mộc Châu bị tràn ngập sau nhiều đợt tấn công của Việt minh, quân Pháp bỏ đồn rút qua rừng về phía Sầm Nứa.

Ngày 30-11-52, đồn Ðiện Biên Phủ bị thất thủ. Ðiện Biên Phủ là một thị trấn thuộc Quân thổ 4, gần biên giới Lào, cách Lai Châu 90 cây số đường thẳng về phía tây nam và cách Sơn La cũng vào khoảng ấy về phía tây, cách Hànội khoảng 300 cây số. Ðiện Biên Phủ nằm giữa một thung lũng dài 15 cây số, rộng 6 cây số, có một phi đạo máy bay Dakota có thể lên xuống được. Ðiện Biên Phủ có chừng 300 lính Thái đặt dưới quyền một viên Tri châu người Mường, Ðèo văn Ban, và một tiểu đoàn lính Sê-nê-ga-le dưới quyền thiếu tá Durand. Tiểu đoàn sênê-ga-le này vừa bị thiệt hại lớn trong một cuộc chạm súng với Việt minh gần Lai châu.

Ngày 25-11-52, tiểu đoàn Lào do thiếu tá Sicard chỉ huy được gửi đến tăng cường. Ngày 29-11, Việt minh tấn công. Tiểu đoàn Lào và lính Thái bỏ chạy về phía Mường Khoa (Lào), Ðiện biên Phủ bị Việt minh chiếm trọn.

Ðứng trước hai thất bại, Mộc Châu và Ðiện Biên Phủ, bộ Chỉ huy Pháp lo ngại Việt minh tấn công vào xứ Lào. Một mặt mở những cuộc hành quân phát xuất từ Na San để đánh phá Việt minh trong việc tiếp tế của họ và tập kích  hậu quân của Việt minh, một mặt tăng cường Sầm Nứa là một thị trấn Lào gần Mộc châu và Ðiện Biên Phủ nhất.

Mặt khác, vì nhu cầu nhân sự, bộ Chỉ huy Pháp giao thêm nhiều trách nhiệm cho Quân lực Quốc gia  trong vùng đồng bằng. Pháp mở các cuộc hành quân vào căn cứ Việt minh trong vùng Quy Nhơn để bớt áp lực cho Pleiku và tổ chức đoàn Biệt kích Mèo để phá rối Việt minh trong vùng Thượng Lào.

Quân lực Quốc gia Việt Nam đầu năm 1953 lên tới 7 sư đoàn, khoảng 150.000 người cộng với 50.000 người phụ lực. Tại vùng đồng bằng, toàn tỉnh Hưng Yên đặt dưới trách nhiệm của Quân lực Quốc gia, từ lâu đã tỏ ra khả năng chiến đấu xứng đáng với trách nhiệm giao phó. Tại các vùng Bùi Chu - Phát Diệm,Việt minh đã bị thất bại nhiều trong những cuộc tấn công.Với sự tín nhiệm đó và trước nhu cầu cần phải tăng viện mặt Lào đang bị đe doạ, Salan rút quân Pháp ở đồng bằng Bắc Việt và Nam Việt chuyển sang Lào, nên đầu năm 1953, Uỷ ban Tối cao Quân sự Pháp nhóm họp dưới sự chủ toạ của Quốc trưởng Bảo Ðại và Tổng trưởng Letourneau, đồng thanh giao trách nhiệm cho bộ Chỉ huy Quân lực Quốc gia trong việc bình định các tỉnh đã thâu hồi được trong miền đồng bằng. Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Quốc gia được mời tham dự trực tiếp trong các Kế hoạch hành quân cho cácchương trình quân sự liên can đến Việt Nam.



Tại miền Trung, những cuộc chuyển quân của Việt minh trong vùng Quy Nhơn và áp lực của 8 tiểu đoàn Việt minh xuất phát từ Liên khu 5 vào An Khê, Pleiku, Kontum, làm bộ Chỉ huy Pháp phải lo ngại và tìm cách chống trả.  Hai tiểu đoàn dù gửi đến tiếp viện được tướng Delange cho đóng ở An Khê. Biệt kích dù GCMA[9] và 2.000 thuỷ quân lục chiến từ mẫu hạm Arromanches đổ bộ vào Quy Nhơn ngày 29-1-53, chiếm Quy Nhơn  rời từ đó xuất phát những cuộc hành quân phối hợp với hai tiểu đoàn dù ở An Khê.

Việt minh rút khỏi khu vực. Áp lực vào Pleiku và Kontum giảm xuống.

Ngày 6-2-53, quân đổ bộ Pháp rút xuống tàu, mang theo 2.500 dân chúng bỏ vùng Việt minh, tỵ nạn vào miền Nam.



Miền Thượng Lào -

Luang Prabang và Cánh Ðồng Chum.

Tại miền Thượng Lào, Sầm Nứa là cửa ngõ từ tây bắc Bắc Việt sang. Dân tộc Mèo tại đó chuyên trồng thuốc phiện sinh sống một cách sung túc. Sầm Nứa cũng là tiền đồn của Cánh Ðồng Chum và tiền đồn của thủ đô Lào Vạn Tượng (Luang Prabang).

Nếu thu phục được dân tộc Mèo để chống Việt minh trong khu vực đó, thì cũng là một lực lượng đáng kể, có thể gây rất nhiều khó khăn cho Việt minh. Ðại tá Trinquier chỉ huy đoàn biệt kích dù hỗn hợp GCMA thuộc cơ quan phản gián SDECE được giao trách nhiệm tổ chức Lực lượng Biệt kích Mèo tại khu vực đó. Cơ quan này liền đề nghị với bộ Chỉ huy Pháp giao thiệp với Tù trưởng Mèo tên là Lý Phụng (Pháp gọi là Toubi) để mua hết số thuốc phiện do dân Mèo sản xuất, chở vào Chợ Lớn bán lấy lời. Tiền lời dùng vào việc tổ chức một toán quân biệt kích Mèo. Trước kia, nhà đoan Ðông Dương vẫn mua tất cả sản lượng thuốc phiện của dân Mèo về lọc, nấu thành chất lỏng, rồi đóng hộp bán cho dân nghiền dùng. Bộ Chỉ huy Pháp thấy có lợi vì không phải bỏ tiền, mà mua chuộc được Tù trưởng và có cả ngàn tay súng phụ lực nên bộ Chỉ huy đồng ý cho Cơ quan GCMA thực hiện chương trình đó. Những chuyến bay Dakota chở hàng tấn thuốc phiện sống, đóng trong những thùng cũ đựng đạn dược, từ Cánh Ðồng Chum bay tới Vũng Tàu, chuyển bằng xe hơi lên Sàigòn giao cho người được Pháp uỷ nhiệm việc tiêu thụ. Sau đó nhờ những món tiền lời, hơn một ngàn quân biệt kích Mèo được tổ chức, dưới quyền chỉ huy của đại úy dù Desfarges và trung úy Brehier có các hạ sĩ quan quốc gia Việt Nam phụ trách việc Truyền tin. Ðoàn quân này được huấn luyện và tổ chức thành từng toán 50 người hoặc 100 người, len lỏi trong rừng rậm tây bắc Bắc Việt và Thượng Lào, dùng chiến thuật du kích, gây nhiều khó khăn cho Việt minh[10].

Tới ngày 12-4-1953, trước áp lực mạnh của 8 tiểu đoàn Việt minh, quân Pháp triệt thoái khỏi đồn Sầm Nứa rút về Cánh đồng Chum, cách 30 cây số về phía Nam.dài khoảng 100 cây số thuộc về địa phận tỉnh Xiêng Khoang, nằm trên cao độ 1200 mét, khí hậu mát mẻ, cây cỏ tươi tốt, có nhiều cây thông mọc, là xứ sở của những người Mèo chuyên nghề trồng thuốc phiện. Trên cánh đồng có 6 nơi tụ hợp những chum.  Cái chum lớn nhất cao khoang ba thước, đường kính khoảng trên hai thước, đã được đục, khoét, khắc từ nguyên khối đá tảng lớn ước lượng từ 2 tới 3 ngàn năm nay. Không ai biết lợi ích của những cái chum đó, có người nói dùng trong việc thờ phụng thần linh. Các nhà khảo cổ tây phương cũng chưa xác định được lợi ích của những cái chum đó.

Tiểu đoàn số 8 Lào trên đường rút lui khỏi Sầm Nứa bị Việt minh đuổi theo truy kích nên bị thiệt hại rất nhiều, phải len lỏi trong rừng, mãi đến 8 ngày sau nhờ có một đại đội dù nhảy xuống tiếp cứu, 300 người sống sót mới thoát được về Cánh Ðồng Chum. Một số khác được quân biệt kích Mèo giúp đỡ, cuối cùng phân nửa số quân trú phòng tại Sầm Nứa thoát được, còn thì bị tử trận, hoặc bị bắt, hay đầu hàng.

Ít tuần sau, trước sức tiến của hai sư đoàn Việt minh 304 và 325, Pháp rút khỏi Xiêng Khoang, lui về cố thủ ở Cánh đồng Chum và Vạn Tượng.



Bộ Chỉ huy Pháp cho rằng xứ Lào đang bị Việt minh đe doạ xâm chiếm, quân VM đang tiến vào xứ Lào, nên ngày 18-4 tướng Salan bay lên Vạn Tượng để trình bầy với Vua Lào tình trạng nguy ngập của Luang Prabang, trước sức tiến công của quânViệt Minh. Hơn nữa, những ngưòi Mỹ đang du lịch tại Vạn Tượng đã được di tản cấp tốc ngay khỏi thành phố bằng một máy bay nhỏ. Vua Lào nhất định không rời khỏi kinh đô. Tướng Salan khi tới hoàng cung thì thấy Nhà Vua vẫn bình thản, không chút lo ngại, mặc dầu các cận thần có trình bầy với nhà Vua phải cấp tốc di tản hoàng gia ngay khỏi kinh đô, nhất là phải rời bức tượng vàng đặc Prabang, là một quốc bảo. Nhà vua từ chối, nhất định không chịu rời khỏi kinh đô.

 Ngày 24-4-51,thành phố Luang Prabang vắng tanh, chợ không họp, các cửa tiệm Tàu đều đóng chặt. Ðài phát thanh Bắc Kinh (Trung cộng) loan báo Vạn Tượng sẽ bị chiếm, chậm lắm trong một tuần lễ nữa, ngày 1-5-53.

Thực sự thì quân số Pháp đóng ở Vạn Tượng để bảo vệ kinh đô rất ít ỏi, nếu có thể có thêm quân tiếp viện khoảng 1 ngàn người được đưa tới, thì chẳng là bao nhiêu so với hai sư đoàn của Việt minh.

Người ta kể một giai thoại được truyền tụng ở Lào thời bấy giờ :

Thái độ bình tĩnh của Nhà Vua và của tất cả mọi người trong hoàng gia, cũng như của đa số người Lào làm nhiều người ngoại quốc bàn tán, nhiều người  khâm phục lòng can đảm của nhà Vua vì ai cũng biết rằng Nhà Vua vẫn công khai tỏ thái độ thân Pháp. Nếu Việt minh tấn công Luang Prabang mà bắt được Nhà Vua thì tính mạng của Nhà Vua coi như không được bảo đảm. Tuy nhiên, lễ Rước tượng Phật Prabang và tượng Rắn thần Nâga bảo vệ Kinh đô cũng được tổ chức trong thành phố với các lời tụng niệm của các nhà sư và dân chúng đông đảo cầu xin phù hộ chống nạn xâm lăng Việt minh.

Mọi người đều bình tĩnh, tất cả đều tin vào lời tiên đoán của Hoà thượng Phou Sathou, một hoà thượng cao niên, mù mắt, sống trong rừng. Hoà thượng tiên đoán rằng : "Hoà thượng đã "nhìn" thấy bọn Phu keo (Việt minh) kéo quân tới sông Nam Hou, nhưng Hoà thượng không "nhìn" thấy bọn Phu keo (Việt minh) qua sông để tiến về  Luang Prabang".

 Cũng như những tin đồn Việt minh kéo từ phía Nam lên Luang Prabang "Hoà thượng không"nhìn" thấy toán quân Việt minh nào từ phía nam tiến lên Luang Prabang cả."

Về sau người ta biết tin Việt minh từ phía Nam lên chỉ là tin đồn chứ không có quân Việt minh nào kéo từ phiá nam lên thủ đô Vạn Tượng.

Lời tiên đoán của vị Hoà thượng mù đã đúng với sự thật.



Rồi một sự việc lạ lùng xảy ra.

Ngày 3-5-53, hai sư đoàn Việt minh đang chuyển quân bỗng ngừng lại không tiến nữa về phía Luang Prabang mà chuyển hướng tiến về phía Sầm Nứa, Việt minh rút hết quân khỏi khu vực Thượng Lào, thành ra không có một trận đánh nào xảy ra trên đất Lào. Cánh Ðồng Chum và thành phố Vạn Tượng thoát khỏi chiến sự.

Về sau, Pháp đưa ra một giải thích : Tù binh Việt minh bị bắt, khai là mưa nguồn lớn quá làm cản trở sự giao thông, không chuyển gạo muối kịp được, quân Việt minh bị gián đoạn tiếp tế nên phải chuyển hướng đi về hướng Sầm Nứa.


__________________________________________________



CHÚ THÍCH BÀI SỐ 7

[1]  Lệnh của tướng Carpentier

[2]  Tết Tân mão 1951

[3] Những con số thắng lợi hay tổn thất của đôi bên trong các trận chiến nói trong tài liệu ‘45-54 chín năm khói lửa’ này đều căn cứ vào các tài liệu của Pháp.

[4] Ðại úy Vi văn Toàn là người hồi tháng 11-45 làm thông ngôn cho Salan lúc Salan sang Tàu

[5] Chú thích : cố gắng giúp thành lập quân đội quốc gia Việt Nam.

[6]  Riêng tại đường số 6,  Pháp phải dùng tới 16 tiểu đoàn để bảo vệ sự lưu thông trên con đường đó.

[7] Theo tài liệu của Pháp

[8] Lừa ngựa để chuyên chở nước uống và tiếp tế lương thực đạn dược cho các đồn điểm tựa đóng trên núi.

[9] GCMA = groupement de commandos mixtes aéroportés

[10] Chú thích : Phần lớn toán quân này bị bỏ rơi khi Pháp rút quân khỏi Bắc việt năm 1954.

Thứ Ba, 29 tháng 5, 2012




 45 - 54, CHÍN NĂM KHÓI LỬA
                                                                     tôvũ
Bài số 6
*

Tình trạng chiến tranh kéo dài không phân thắng bại. Quân đội Pháp giữ vững tại các thành phố vùng đồng bằng, đóng đồn bót trên những trục lộ giao thông quan trọng quanh các thị trấn nhưng tại các làng mạc và các vùng hẻo lánh, và khắp vùng trung, thượng du Bắc Kỳ, trung, thượng du Trung Kỳ vẫn thuộc vùng kiểm soát của Việt minh.
Ðể thi hành chỉ thị của chính phủ Pháp, Bollaert và Valluy thực hành những kế hoạch lớn về quân sự và về chính trị.

Giải pháp Bảo Ðại

Về chính trị, Bollaert kiếm một người đối thoại để tìm cách giải quyết âm thầm theo tinh thần chỉ thị của Chính phủ Pháp.
Tại miền Nam, có chính phủ Nam Kỳ Quốc do bác sĩ Lê văn Hoạch làm thủ tướng, sau khi bác sĩ Nguyễn văn Thinh tự sát. Nhưng bác sĩ Hoạch chỉ hữu ích trong việc giải quyết những vấn đề địa phương thuộc phạm vi Nam Kỳ. Tại miền Trung và miền Bắc, tuy có những cựu quan lại, cựu công chức ra nhận chức vụ trong các Hội đồng An Dân, nhưng không có một nhân vật nào khả dĩ thay thế Hồ chí Minh để đối thoại với Chính phủ Pháp được, còn Hồ chí Minh thì chính phủ Pháp, đúng hơn là các bộ trưởng thuộc phe De Gaulle trong chính phủ Pháp, đã loại ra khỏi cuộc đàm phán, nên chính phủ Pháp và Bollaert có ý định nếu không tìm được ai thì mời cựu hoàng Bảo Ðại về nước để đàm phán. Dầu sao Cựu hoàng vẫn còn có uy thế trong dân chúng vùng quốc gia do Pháp chiếm đóng, và điều đình với Bảo Ðại thì không gay go lắm.
Tháng ba 1947, cựu hoàng Bảo Ðại được chính phủ Pháp dò xét ý định. Cousseau, một quan cai trị Pháp ở Ðông Dương lâu năm, cựu giám đốc Nha Chính trị, được cử tới gặp Bảo Ðại ở Hồng Kông để thăm dò ý kiến. Bảo Ðại và cụ Trần trọng Kim tiếp Cousseau, đưa ra bẩy đề nghị để Cousseau chuyển về Pháp :
1) Thống nhất Việt Nam gồm ba kỳ và dân tộc thiểu số.
2) Việt Nam hoàn toàn tự trị. Pháp không được can thiệp vào vấn đề nội bộ.
3) Bỏ Liên bang Ðông Dương và định rõ vị trí Việt Nam trong Liên hiệp Pháp.
4) Việt Nam có quân đội riêng.
5) Việt Nam có tài chính riêng.
6) Pháp định rõ thời gian trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam.
7) Việt Nam có quyền liên lạc ngoại giao với các nước Á Ðông
Sự việc xảy ra tới đó cho tới cuối tháng 8 năm 1946.
Sau nhiều lần gặp gỡ, Pháp và Bảo Ðại vẫn chưa có một thoả thuận nào. Chính phủ Pháp vẫn còn chút lưỡng lự vì mặc dù giải pháp Bảo Ðại hấp dẫn nhưng điều đình với Hồ chí Minh để chấm dứt chiến cuộc mà không phải trả giá đắt thì vẫn hơn. Ðó cũng là hai thái độ đối lập giữa các phe phái trong chính phủ Pháp. Các bộ trưởng thuộc phe Phong trào Cộng hoà Bình dân (MRP) thì bênh vực giải pháp Bảo Ðại, còn phe Xã Hội thì không muốn, hoặc có điều đình với Bảo Ðại thì phải điều đình cả với Hồ chí Minh và các nhân vật Việt Nam khác nữa.
Trong tình trạng đó, ngày 10-9-1947 tại thị xã Hà Ðông, một thị xã đổ nát do kế hoạch tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống của Việt minh,- Hà Ðông cách Hànội 11 cây số về phía tây và cũng là ranh giới khu chiếm đóng của Pháp lúc bấy giờ,- trên một khán đài đặt tại vườn hoa Thị xã, Bollaert đọc một bài diễn văn chính trị quan trọng.
Bài diễn văn này nguyên thủy được Bollaert viết để gửi đến Hồ chí Minh những lời đề nghị hoà bình dự định đọc ngày 15-8-47, nhưng chính phủ Pháp hoãn ngày đọc lại để xem xét và gọt giũa thay đổi hoàn toàn, thành ra những lời lẽ trong bài diễn văn đó trở thành ác cảm với Việt minh, mục đích làm cho Việt minh không thể chấp nhận được, mà trái lại mở đường cho Bảo Ðại.
Ðây là một đoạn trích :
(...) Nước Pháp không theo đuổi mục đích chiếm đóng hoặc tái chiếm và cũng không tìm cách cai trị trực tiếp hay gián tiếp. Nước Pháp sẵn sàng trao cho các chính phủ xứng đáng quyền điều khiển guồng máy công cộng và hứa sẽ giúp họ những nhân sự, công chức hay chuyên viên, mà họ cần thiết. Mỗi dân tộc Ðông Dương sẽ tự tìm những điều kiện sinh hoạt hợp với cá tính của mình. Họ sẽ tự tổ chức những cơ quan đại diện, cơ quan tư pháp, tài chính, giáo dục và y tế riêng của họ mà không có sự  xen chân vào của nước Pháp. Như vậy các dân tộc Ðông Dương tự nắm lấy vận mệnh và tương lai của mình và chúng tôi thành thực cầu mong những điều đó sẽ mang lại hạnh phúc cho họ.
(...) Tôi yêu cầu tất cả những năng lực lành mạnh hãy hợp tác với nhau trong những cơ cấu chính quyền để sự giao thiệp Việt Pháp trở nên dễ dàng. Tôi yêu cầu tất cả hãy đồng thanh trả lời những lời đề nghị của nước Pháp để tỏ sự trưởng thành chính trị của mình.
Tôi ngỏ lời kêu gọi tối hậu này tới tất cả các gia đình chính trị, tất cả các gia đình tinh thần và tất cả các gia đình xã hội. Tất cả các nhà ái quốc không phân biệt mầu sắc hãy can đảm tuyên bố lập trường chính trị của mình và nhận phần trách nhiệm kiến thiết đất nước. Nền móng của các nước trẻ liên kết càng lớn, nền tự trị càng vững chắc và hoà bình càng trường cửu. Những kẻ khởi hấn ngày 19 tháng 12 đã mất tín nhiệm (...) hoà bình không thể vãn hội do một đảng duy nhất (...)
(...) Những đề nghị này là một đề nghị bất khả phân, một là nhận cả, hai là không. (...)
Phản ứng về bài diễn văn này, Hoàng minh Giám tuyên bố trên đài phát thanh Việt minh là bài diễn văn rỗng tuyếch không có ý nghĩa gì thực tế.

***

Tại Hồng Kông, sau khi gặp Cousseau và trung tá Reynaud do Bollaert cử sang, Bảo Ðại cử người về nước tiếp xúc với các nhân vật chính trị.
Một hội nghị gồm 40 nhân sĩ thuộc các đảng phái quốc gia mọi khuynh hướng, ở trong nước và ở ngoài nước, đáp lời mời của Bảo Ðại, tới Hồng Kông họp để nghiên cứu tình hình. Có mặt có các ông Nguyễn hải Thần (Việt nam Cách mệnh Ðồng minh Hội), Trần văn Tuyên tức Trần Côn (Quốc gia Thanh Niên Ðoàn), Nguyễn tường Long tức Nguyễn phúc Vân (Ðảng Dân chính), Lưu đức Trung (Vận động Dân chúng), Nghiêm xuân Việt (Ðại Việt), Nguyễn tường Tam tức Trần quốc Lập (Quốc dân Ðảng),Vũ kim Thành (Việt tam Quân quân trưởng), các đại diện các tôn giáo và đảng phái trong nước : Cao Ðài, Hoà Hảo, Dân Xã, Công Giáo, Mặt trận Quốc gia Thống nhất Toàn quốc, Mặt trận Bình dân Nam Kỳ, Khối Quốc gia Liên hiệp ở Miền Trung, Khối Quốc gia Liên hiệp Xã nông Lao công Ðại chúng và các vị nhân sĩ không đảng phái như ông Trần văn Lý Chủ, tịch Hội đồng chấp chánh ở Trung Kỳ, các vị quan lại triều đình cũ như cụ Trần thanh Ðạt, Lương văn Phúc, Hà xuân Hải, các ông Nguyển bá Chính, Nguyễn văn Tâm, Trần ngọc Liễng, Trương vĩnh Tống, Nguyễn văn Sâm, Nguyễn bảo Toàn, Cung giũ Nguyên, v.v...

Ngày 10-9-47, sau khi nghe bài diễn văn, Hội nghị trên gửi một điện văn cho Bollaert bác bỏ những đề nghị của ông ta vì không đáp được đúng nguyện vọng của Việt Nam, một mặt hội nghị gửi một kiến nghị yêu cầu Bảo Ðại đứng ra lãnh đạo quốc gia để tranh đấu với Pháp.
Một đoạn trích Kiến nghị như sau :
(...) Mặc đầu bài diễn văn của ông Bollaert có tính cách một tối hậu thư đối với dân tộc Việt Nam, những điều kiện đề nghị không làm thoả mãn nguyện vọng độc lập thống nhất của dân tộc Việt Nam, toàn thể hội nghị cũng thỉnh cầu đức Bảo Ðại nguyên Hoàng Ðế đứng lên thay mặt nước Việt Nam để cùng chính phủ Pháp tìm một con đường hoà bình, Hội nghị triệt để ủng hộ Ngài trong sứ mạng đó.
(...) Chúng tôi tin rằng những cuộc thương nghị, với quyền uy của Ngài, sẽ vãn hồi và duy trì hoà bình, quyền lợi chánh đáng của hai dân tộc liên kết với nhau trên nền tảng công lý và bình đẳng trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp mà quy chế sẽ do hai bên bàn đînh. (...)

Sau khi nhận được lời yêu cầu đứng ra thương thuyết với Pháp, ngày 8-9-47 Bảo Ðại công bố bản Tuyên ngôn, gián tiếp trả lời Bollaert là sẵn sàng liên lạc với các nhà chức sự Pháp để xét những lời đề nghị của họ về vấn đề Ðộc lập và Thống nhất Việt Nam.
Nguyên văn bản Tuyên ngôn như sau :
"Quốc dân đồng bào !
Vì muốn tránh cuộc đổ máu của đồng bào nên tôi đã từ bỏ ngai vàng cùa các đấng Tiên đế. Các người đã muốn giao phó số mạng cho những người cầm quyền mới, tôi đã tự ý rút lui ngôi báu, lưu vong nước ngoài để khỏi làm chướng ngại vật một cuộc thí nghiệm chánh trị mà các người tưởng sẽ mang lại hạnh phúc cho các người.
Ở chốn tha hương này tôi vẫn theo dõi những biến chuyển lịch sử ghê gớm gần đây của nước nhà, một đôi khi lòng hy vọng, xong biết bao khi lòng ngao ngán buồn thương !
Hy vọng của các người tôi đâu có lạ.
Ngày nay tôi đã nghe tiếng kêu la, gọi cứu thảm thiết của các người tuy có một chế độ độc tài cố bịt mồm lấp miệng các người. Các người đã phải tỏ cho tôi hay những nỗi lầm than của các người, để báo cáo cho tôi biết những tai hoạ mà nước Việt Nam thân mến của chúng ta đã phải chịu trong hai năm kinh nghiệm chế độ chính trị độc tài của những người nắm quyền mới của các người.
Thế là giấc mộng Hạnh phúc của các người mà mọi tuyên truyền khéo léo, một lý thuyết mới đã làm nẩy nở trong lòng các người nay đã tan tành.

Trong cảnh điêu linh, các người đã đến cầu xin tôi lấy uy tín của tôi để vãn hồi hoà bình đối ngoại thì hoà bình trong an ninh trật tự, trong đất nước đang bị chiến tranh tàn phá và đẫm máu vì cuộc huynh đệ tương tàn. Vì người đại diện của nước Pháp ở Việt nam là Cao Uỷ Bollaert đã yêu cầu các người chỉ định những nhân vật có uy tín đối với các người. Nay các người thỉnh cầu tôi đứng lên thay mặt các người đứng lên đàm phán với nước Pháp.
Tôi chấp nhận lời thỉnh cầu của các ngưòi, chịu đảm nhận sứ mạng của các người phó thác cho tôi và sẵn sàng tiếp xúc với các nhà chức trách Pháp.
Tôi sẽ cùng họ xem xét một cách khách quan những lời đề nghị mà nước Pháp đã đưa ra.

Tôi muốn thực hiện nguyện vọng Ðộc lập và Thống nhất của các người, ký kết những Hiệp định với bảo đảm hỗ tương, và có thể xác định với các người rằng lý tưởng mà các người đã theo đưổi trong một cuộc kháng chiến oanh liệt nay đã đạt được rồi.
Ðược thế rồi tôi sẽ lấy uy tín của tôi để dàn xếp cuộc tranh chấp giữa các người.Vì rằng khi chúng ta đã đạt tới mục đích rồi không còn một lẽ gì ngăn cản chúng ta lập lại hoà bình nguồn gốc của an ninh, thạnh vượng.
Hoà bình mà tôi sẽ cho các người, tôi muốn duy trì cho các người được hưởng lâu dài.
Năm tháng sẽ làm dịu bớt những ý tưởng cuồng nhiệt. Rồi hết thảy mọi người Việt nam sẽ một lòng, một chí xây dựng giang sơn gấm vóc của chúng ta trên những nền tảng mới, dùng những sanh lực tiềm tàng trong những thuần phong mỹ tục cổ truyền của tổ phụ."


Cuộc hành quân Léa

Về mặt quân sự, tướng Salan lại được chính phủ Pháp cử sang Bắc Kỳ thay thế đại tá Dèbes trong chức vụ Chỉ huy Quân lực Pháp ở Bắc Ðông Dương. Tướng Valluy vẫn giữ chức Chỉ huy tối cao Quân đội Viễn chinh thay thế Leclerc từ hồi tháng 6-1946. Valluy và Salan nghiên cứu một cuộc hành quân đại quy mô vào vùng Việt Bắc mục đích phá vỡ các tổ chức quân sự dân sự của Việt minh, lùng bắt chính phủ Hồ chí Minh và đặt các căn cứ kiểm soát vùng biên gìới Hoa Việt để chặn đường liên lạc tiếp tế cho Việt minh của Trung Cộng lúc bấy gìờ đang có thế mạnh ở Hoa Bắc.
Cuộc hành quân mệnh danh là LÉA, tên một ngọn đèo cao 1362 thước trên đường thuộc địa số 3 giữa Bắc Kạn và Cao Bằng, được nghiên cứu và sửa soạn nhiều ngày trước.
Ngày 7 tháng 10-1947, tướng Salan ra lệnh tiến quân ba mặt.
- Một đạo quân nhảy dù dưới quyền chỉ huy của đại tá Sauvagnac đáp xuống thị xã Bắc Kạn chiếm đóng các công sở, nhà thương, kho bạc, nhà máy đèn v.v... Việt minh bị bất ngờ không kịp phản ứng.
- Một đạo bộ binh do đại tá Beaufre chỉ huy, tiến từ Lạng Sơn dọc theo đường thuộc địa số 4 tiến qua Ðồng đăng, Na Chàm, Thất Khê, Ðông Khê tới Cao Bằng ngày 12 tháng 10, rồi từ Cao Bằng dọc theo đường thuộc địa số 3-bis xuống Bắc Kạn.
- Một đạo thuỷ quân dưới quyền chỉ huy của đại tá Commu-nal theo đường thủy ngược sông Ðà Giang, sông Gầm tiến chiếm Phủ Ðoan ngày 12, chiếm Tuyên Quang ngày 13 và Chiêm Hoá ngày 17 tháng 10.
Khắp nơi Việt minh đều bị bất ngờ không có phản ứng, quân Pháp phá huỷ nhiều cơ sở và các kho khí giới đạn dược.
Tại Bắc Kạn, cánh quân Sauvagnac giải thoát được nhiều nguời Việt quốc gia bị Việt minh bắt giam cầm tù, trong số có Phạm văn Bính, về sau, hồi 1952, trở thành Thủ hiến Bắc Việt.
Sau khi chiếm được Bắc Kạn, từ ngày 19-11 đến ngày 14-12-47 quân Pháp hành quân vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Phủ lạng Thương - Việt Trì, nơi trú đóng của các cơ quan chính phủ Việt minh, phá vỡ đài phát thanh, bắt được máy in giấy bạc, nhiều dụng cụ khí giới đủ loại, súng cá nhân, súng tự động và đại bác, bắt 1.000 tù binh, giải thoát các con tin người Pháp, chiếm lại được mỏ kẽm Tĩnh Túc (Cao Bằng) và mỏ chì Tuyên Quang và suýt bắt được toàn bộ đầu não của Việt minh. [1]
Quân Pháp thiệt hại khá nhiều, nhất là bộ binh của đại tá Beaufre. Qua cơn bất ngờ lúc đầu, Việt minh tổ chức các ổ phục kích trên đường thuộc địa số 4 (RC4) Lạng Sơn - Cao Bằng, đánh các đoàn công-voa và các đồn bót do Pháp đặt rải rác để giữ trục giao thông đó.
Thiệt hại của Pháp trong cuộc hành quân LÉAước khoảng 700 người vừa thiệt mạng, vừa bị bắt cầm tù và bị thương.[2]

Tại Pháp, chính phủ Ramadier bị đổ. Ngày 24-11-47, Robert Schuman thuộc Phong trào Cộng hoà Bình dân (MRP) lên làm Thủ tướng, Coste Floret (MRP) giữ Bộ Pháp quốc Hải ngoại.
Sau khi nhậm chức, Bộ trưởng Coste Floret liên lạc với Bảo Ðại để xúc tiến "Giải pháp Bảo Ðại".  Một cuộc gặp gỡ giữa Bảo Ðại và Cao uỷ Bollaert được tổ chức để hai bên trao đổi lập trường.
Ngày 7-12-47, tại Vịnh Hạ Long, Bảo Ðại ra điều kiện với Bollaert là chỉ nhận đứng ra thương thuyết với Pháp trên căn bản Việt Nam Ðộc lập và Thống nhất, ngược lại Bảo Ðại chấp nhận Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp và bảo đảm những quyền lợi Pháp trong mọi lãnh vực ở Việt Nam.
*

Sau ngày đó, Cựu hoàng trở về Hồng Kông, Bollaert trở về Pháp trình bầy cho Chính phủ Pháp biết lập trường chính thức của Bảo Ðại.
Trong khi đó các chính khách Việt Nam tới tấp bay tới Hồng Kông để yết kiến Cựu Hoàng bầy mưu hiến kế.
Ðể làm yên lòng Bảo Ðại, ngày 19-12-47, Thủ tướng Nam kỳ Quốc, Nguyễn văn Xuân cùng một phái đoàn các nhân vật có tên tuổi ở Nam Kỳ cũng bay sang Hồng Kông gặp Bảo Ðại để xác nhận ý muốn sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam thống nhất và mời Bảo Ðại về nước chấp chánh.
Ít lâu sau, Bảo Ðại sang Âu Châu để tiếp tục đàm phán với Pháp. Bollaert tới gặp Bảo Ðại ở Genève.
Trở về Hồng Kông, ngày 25-5-48 Bảo Ðại cử Thiếu tướng Nguyễn văn Xuân thành lập Chánh phủ Trung ương Lâm thời để cai trị cả ba kỳ Trung, Nam, Bắc và để đại diện Việt Nam trong các cuộc thương thuyết với chính phủ Pháp.
Ngày 5-6-48, tại vịnh Hạ Long, Cao uỷ Bollaert thay mặt chính phủ Pháp ký với Thủ tướng Xuân, trước sự hiện diện của Bảo Ðại, một tạm ước dùng làm căn bản cho những cuộc đàm phán chính thức về sau, theo đó nước Pháp long trọng nhìn nhận nước Việt Nam Ðộc lập trong Liên hiệp Pháp.
Sau khi tạm ước được ký kết, Bảo Ðại rời Hồng Kông sang Pháp trú ngụ lấy cớ chữa bệnh.
Ít lâu sau, chính phủ Pháp sốt ruột thấy Bảo Ðại ở lâu không về Việt Nam trực tiếp tham chính để điều đình với Việt minh chấm dứt chiến tranh, chính phủ Pháp có ý giục Bảo Ðại, nhưng Cựu Hoàng cho biết chỉ về khi nào Nam Kỳ được chính thức sáp nhập vào Việt Nam, nghĩa là Việt Nam được thống nhất, và khi nào Tạm ước Hạ Long được thay thế bằng một Hiệp ước chính thức.
Tháng 7-1948, chính phủ Schuman đổ. André Marie thuộc đảng Xã hội lên nắm quyền.
Trong Quốc hội nước Pháp lúc bấy giờ có nhiều khuynh hướng chính trị trái ngược nhau, phe thì thiên về giải pháp Bảo Ðại, phe thực dân thì muốn giữ nguyên Nam Kỳ Quốc để thủ lợi, do đó khó dung hoà được một giải pháp chính trị tại Ðông Dương. Mặt khác chiến tranh làm hao tổn công quỹ nước Pháp mà không mang lại thắng lợi gì rõ rệt, năm 1948 tốn gần 90 tỷ quan, nền tài chính Pháp lại không dồi dào gì mà nước Pháp lại đang cần tiền để kiến thiết xứ sở.
Tại Trung Hoa thì quân cộng sản Tàu thắng thế mạnh, đang tràn xuống miền Nam chẳng mấy lúc mà tới biên giới Hoa Việt bắt tay với Việt minh, khiến Việt minh càng thêm sức mạnh, được viện trợ vũ khí đạn dược và chiến cụ của Tàu.  
Trong tình hình đó, nếu không giải quyết mau lẹ vấn đề chính trị thì càng ngày càng thất lợi cho Pháp, nên sau khi chính phủ Queuille (Xã Hội) lên cầm quyền vào tháng 9-1948 thì Cao ủy Bollaert được gọi về Pháp. Chính phủ Queuille quyết định hướng về giải pháp Bảo Ðại, cử Pignon sang thay thế Bollaert.

Thoả hiệp Élysées ngày 8-3-49 giữa Vincent Auriol và Bảo Ðại

Ngày 8-3 năm 1949, tại điện Élysées một Thoả hiệp được trao đổi giữa Tổng Thống Pháp Vincent Auriol và Cựu Hoàng Bảo Ðại.
Nguyên văn bản Thoả hiệp như sau (bản dịch) :

Balê, ngày 8 tháng 3 năm 1949
Tổng thống Cộng Hoà, Chủ tịch Liên hiệp Pháp
Kính gửi Hoàng Ðế Bảo Ðại
Thưa Hoàng Thượng.
Về vấn đề Thống nhất và Ðộc lập của Việt Nam, Ngài đã tỏ ý muốn có một sự minh xác những nguyên tắc đã được đề ra trong bản Tuyên ngôn chung ngày 5-6-48 tại vịnh Hạ Long giữa Cao ủy Pháp tại Ðông Dương, Emile Bollaert, và Thiếu tướng Nguyễn văn Xuân, Thủ tuớng Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam, trước sự hiện diện của Hoàng Thượng.
Ý muốn này cũng là ý muốn của chính phủ Pháp. Sau khi thương nghị giữa các Bộ trưởng, Chính phủ đã yêu cầu tôi với tư cách Chủ tịch Liên hiệp Pháp trao đổi với Hoàng Thượng những văn kiện để tiến tới một thoả hiệp xác định những nguyên tắc của bản Tuyên ngôn chung ngày 5-6 [3] để thi hành.
Chính phủ của Hoàng Thượng một mặt sẽ thoả thuận với vị -Cao Ủy Pháp ở Ðông Dươngvề những điều khoản đặc biệt hay tạm thời quy định sự giao thiệp giữa Liên hiệp Pháp và Việt Nam cho tới khi hoà bình và trật tự được tái lập, phù hợp với những nguyên tắc đề ra sau đây, trong văn kiện này, và phù hợp với tình trạng hiện tại; mặt khác xếp đặt với vị đại diện Pháp và những chính phủ Lào và Căm-Bốt những sự thoả thuận cần thiết thể theo văn kiện này.
Trên những văn bản và với những điều kiện đó, tôi nhân danh Chính phủ Cộng Hoà Pháp Quốc xác nhận sự thoả thuận của tôi về những điều khoản sau đây (dịch tóm tắt) :

I - Thống nhất nước Việt Nam
Mặc dầu những Hiệp ước cũ vẫn còn có hiệu lực, nước Pháp long trọng xác nhận không phản đối việc xứ Nam Kỳ gia nhập nước Việt Nam do các lãnh thổ Tonkin, Annam và Cochinchine hợp thành.
Nhưng sự sáp nhập xứ Nam Kỳ vào Việt Nam chỉ được coi như chính thức sau khi có cuộc tự do trưng cầu ý kiến của dân chúng hoặc của đại diện xứ đó.
(...) Chính phủ Pháp từ bỏ quyền của mình trên những thành phố Hànội, Hải Phòng và Tourane mà quy chế đặc biệt đã được các Vua thời trước chấp nhận.
(...) Ðối với các dân tộc không phải là Việt Nam sống trên lãnh thổ Việt Nam mà từ trước vẫn thuộc về Cương thổ Hoàng Triều thì sẽ có những bản quy chế đặc biệt thoả thuận giữa chính phủ Việt Nam và nước Pháp.

II - Vấn đề ngoại giao
Việt Nam sẽ theo đuổi một chánh sách ngoại giao phù hợp với chính sách của Liên hiệp Pháp.
Các đại diện ngoại quốc tới Việt Nam sẽ được uỷ nhiệm với Chủ tịch Liên hiệp Pháp và với Hoàng Ðế Việt Nam.
Uỷ nhiệm thư của các Trưởng phái đoàn ngoại giao Việt Nam, mà chính phủ Việt Nam đề cử với sự thoả thuận của chính phủ Cộng hoà Pháp, do Chủ tịch Liên hiệp Pháp ký có Hoàng Ðế Việt Nam phó thự.
Những nước mà Việt Nam đặt liên lạc ngoại giao sẽ được chỉ định sau với sự thoả thuận của chính phủ Pháp
Việt Nam chỉ ký kết những thoả ước với nước ngoài khi mà những điều kiện đã được Pháp xem xét trước và có sự thoả thuận trước của chính phủ Pháp.
(...) Chính phủ Cộng hoà Pháp cam kết ủng hộ Việt Nam gia nhâp Liên Hiệp Quốc khi đủ điều kiện.

III - Vấn đề quân sự
Nước Việt Nam có quân đội riêng với nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh trong nước, bảo vệ xứ sở với sự giúp sức của quân lực Liên hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam cũng góp phần bảo vệ biên giới Liện hiệp Pháp chống ngoại thù.
Quân số quân đội Việt Nam và quân số quân đội Liên hiệp Pháp trú đóng ở Việt Nam sẽ được định trong một bản thoả ước riêng với mức độ có thể dùng hữu hiệu trong thời chiến để chống giữ lãnh thổ Việt Nam và Liên hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam gồm những binh sĩ người Việt Nam ; các huấn luyện viên, các cố vấn kỹ thuật người Pháp sẽ đặt dưới quyền sử dụng củaViệt Nam.
Các sĩ quan Việt Nam được huấn luyện trong các trường Võ bị Việt Nam có thể được tiếp nhận trong các trường Pháp không phân biệt chủng tộc. Ðể làm dễ dàng sự hợp tác trong thời chiến, sự tổ chức quân đội Việt Nam sẽ tương tự như sự tổ chức quân đội Liên hiệp Pháp.
Quân đội Việt Nam sẽ do ngân sách Việt Nam đài thọ. Chính phủ Việt Nam sẽ đặt mua chiến cụ qua chính phủ Pháp.
(...) Quân đội Liên hiệp Pháp sẽ trú đóng tại các căn cứ do một thoả hiệp riêng chỉ định. Quân đội Liên hiệp Pháp được quyền di chuyển tự do giữa các căn cứ của mình. Theo nguyên tắc hợp tác hoàn toàn trong Liên hiệp Pháp, quân đội Liên hiệp Pháp gồm có cả phần tử lính Việt Nam mà sự tuyển mộ sẽ định rõ trong một thỏa hiệp riêng.
(...) Một Uỷ ban quân sự thường trực gồm các Sĩ quan Tham mưu của hai quân đội được thành lập để nghiên cứu các kế hoạch phòng thủ chung và hợp tác quân sự giữa hai bên.
(...) Trong thời chiến, toàn thể quân đội Việt Nam và Liên hiệp Pháp được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp có một Tham mưu trưỏng phụ tá.

IV - Chủ quyền quốc nội
Chính phủ Việt Nam có hoàn toàn chủ quyền nội trị. Chính phủ Việt Nam sẽ ký kết với vị Cao uỷ Pháp ở Ðông Dương những thoả hiệp đặc biệt hay tạm thời và thể thức trao trả Việt Namnhững quyền hành do Pháp nắm giữ từ trước.
Mỗi khi cần tới cố vấn hay chuyên viên hay kỹ thuật gia trong các ngành, chính phủ Việt Namdành quyền ưu tiên cho các công dân Liên hiệp Pháp. Chỉ khi nào nước Pháp không cung ứng được thì quyền ưu tiên đó mới mất (...)

V - Vấn đề tư pháp
Nước Việt Nam có chủ quyền đầy đủ về tư pháp (...)
(...) Tuy nhiên trong những vụ xử những người Pháp thì luật nước Pháp được áp dụng, còn như đối với những người ngoại quốc khác thì luật Việt Nam được áp dụng (...)
VI - Vấn đề văn hoá
 Nước Pháp được tự do mở trường công hay tư bậc tiểu học và trung học dạy theo chương trình áp dụng ở Pháp, tuy nhiên phải bắt buộc có môn văn học sử Việt Nam. Học sinh Việt Namđược tự do theo học các trường đó.
Tiếng Pháp được giảng dậy ở các trường Trung học Việt Nam với số giờ đủ cho sinh viên Việt Nam có thể theo học trường đại học Pháp được.
Một thoả hiệp sẽ định rõ sự tương đương giữa văn bằng Pháp và Việt Nam .
Việt Nam có toàn quyền tổ chức bậc đại học.
(... Tiếp theo là những điều khoản liên quan đến trường Bác cổ Viễn đông, viện Pasteur, nha Thư viện và Lưu trữ...)

VII- Vấn đề tài chính và kinh tế
Những người Việt Nam ở Pháp hay ở trên các lãnh thổ khác trong Liên hiệp Pháp cũng giống như những người Pháp hay công dân Liên hiệp Pháp ở Việt Nam được hưởng ngang quyền cư trú như dân bản xứ. Họ được tự do đi lại buôn bán sinh sống.
Cơ sở tư nhân Pháp ở Việt Nam được hưởng cùng một quy chế, nhất là vấn đề thuế khoá và luật lao động, ngược lại cơ sở Việt Nam ở Pháp cũng vậy.
Tài sản cũa những người dân  Liên hiệp Pháp  đã  bị  mất  hồi tháng 3-45 đều được trao trả lại cho họ trong tình trạng hiện tại.
Tư bản Pháp được tự do đầu tư ở Việt Nam  nhưng phải theo luật lệ của Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam có chủ quyền về tài chánh của mình, Việt Nam tự thành lập và điều khiển ngân sách.
Việt Nam ở trong khối Liên hiệp tiền tệ với các nước khác ở Ðông Dương.
Viện phát hành Ðông Dương sẽ phát hành một đồng bạc có giá trị chung cho cả ba quốc gia. Ðồng bạc Ðông Dương thuộc khu vực đồng quan. Hối suất giữa đồng quan và đồng bạc sẽ không bất-di-dịch mà thay đổi tùy theo tình trạng kinh tế. Tuy nhiên hối suất chỉ thay đổi sau khi có sự hội ý của các nước Liên kết Ðông Dương.
Viện hối đoái Ðông Dương sẻ kiểm soát việc trao đổi tiền bạc.
Nước Việt Nam hợp với các nước khác ở Ðông Dương thành một Liên hiệp quan thuế. Giữa các nước đó không có hàng rào quan thuế, hàng hoá khi qua biên giới chung không phải nộp một khoản thuế nào (...)
Một hội nghị giữa các nước Ðông Dương sẽ được tổ chức để bàn về các cơ quan chung như truyền tin, di cư, ngoại thương, quan thuế, ngân khố và chương trình trang bị.
Những thoả hiệp sẽ được ký kết ở Sàigòn giữa vị Cao ủy Ðông Dương và Hoàng Thượng và sẽ thi hành ngay sau khi ký kết.
Bản Tuyên ngôn chung ngày 5 tháng 6 và bản Văn kiện này cùng những bản Thoả ước phụ, ký về sau, sẽ được trình Quốc hội Pháp duyệt y và những cơ quan có thẩm quyền Việt Nam xét để tạo thành Văn kiện quy định ở điều 61 Hiến Pháp Cộng hoà Pháp. Chính phủ Pháp và tôi tin tưởng rằng sự thi hành mau chóng những điều khoản trên đây sẽ góp phần hữu hiệu vào việc tái lập hoà bình ở nước Việt Nam, một nước tự do liên kết trong bình đẳng và hữu nghị với nước Pháp.
Xin Hoàng Thượng nhận nơi đây lòng kính trọng của tôi.
Ký tên : Vincent Auriol

Cựu Hoàng Bảo Ðại cũng viết một bức thư mà nội dung tương tự y hệt bức thư trên gửi cho Tổng thống Pháp, xác nhận những điều khoản hai bên thoả thuận.
Nguyên văn bức thư như sau : 

Thư ngày 8-3-49 của Bảo Ðại
gửi Vincent Auriol
Ba lê ngày 8 tháng 3 năm 1949
Hoàng đế Bảo Ðại
Kính gửi Tổng thống Cộng hoà Pháp quốc, Chủ tịch Liên hiệp Pháp,
Thưa Chủ tịch
Tôi hân hạnh báo tin Ngài biết tôi đã nhận được bức thư đề ngày hôm nay mà nội dung như sau :
I - Thống nhất Việt Nam (nhắc lại y hệt thư cuả TT Pháp).
II - Vấn đề ngoại giao (nhắc lại y hệt thư cuả TT Pháp).
III - Vấn đề quân sự (nhắc lại y hệt thư cuả TT Pháp).
IV - Chủ quyền quốc nội (nhắc lại y hệt thư cuả TT Pháp).
V - Vấn đề tư (nhắc lại y hệt thư cuả TT Pháp).
VI - Vấn đề văn hoá (nhắc lại y hệt thư cuả TT Pháp).
VII Vấn đề tài chánh kinh tế (nhắc lại y hệt thư cuả TT Pháp).
Tôi hân hạnh phúc đáp Ngài biết tôi hoàn toàn thoả thuận về các điều khoản và nội dung của bức thư ấy.
Tôi tin tưởng rằng sự thi hành những điều khoản trong thư đó với một tinh thần tin tưởng và hiểu biết lẫn nhau sẽ tái lập nhanh chóng hoà bình ở Việt Nam.
Tôi cũng tin chắc rằng nước Việt Nam từ nay trở đi liên kết khắng khít với nước Pháp trong sự thống nhất và bình đẳng, sẽ góp phần hữu hiệu vào sự thịnh vượng và sự hùng cường của nước Pháp.
Xin ông Chủ Tịch nhận nơi đây lòng kính trọng của tôi.
Ký tên : Bảo Ðại

Ðể giải thích vào thư trên, Tổng thống Pháp gửi một bức thư nữa cho Bảo Ðại, thư cũng đề ngày 8 tháng 3-1949, nguyên văn như sau :
Thư ngày 8-3-49 của
Vincent Auriol gửi Bảo Ðại

Balê, ngày 8 tháng 3 năm 1949
Tổng Thống Cộng hoà Pháp quốc, Chủ Tịch Liên hiệp Pháp
Kính gửi Hoàng Ðế Bảo Ðại
Thưa Hoàng Thượng,
Như đã được quyết định trong những sự hoà đàm về Thỏa ước Pháp Việt ký tại Paris ngày 8-3-49, tôi hân hạnh minh xác với Hoàng Thượng trong bức thư này những điều mà Hoàng Thượng muốn biết rõ về vài điểm đặc biệt.

1 -  Thống nhất Việt Nam
1.1 - Việc sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam sẽ theo các thể thức sau đây :
- Quốc hội Pháp đầu phiếu một đạo luật  thành lập một Quốc hội đại diện lãnh thổ Nam Kỳ, dự định ở điều 77 trong Hiến pháp, có nhiệm vụ cho ý kiến về sự thay đổi quy chế lãnh thổ đó.
- Quốc hội Nam Kỳ đầu phiếu về sự thay đổi quy chế và sự sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam.
- Quốc hội Pháp đầu phiếu luật dự định trong điều 77 Hiến pháp Pháp quốc công nhận sự hay đổi quy chế Nam Kỳ.  Quốc hội Pháp sẽ họp khẩn cấp sau khi Quốc hội Nam Kỳ đầu phiếu.
1-2 - Chính phủ Pháp thoả thuận về những quy chế đặc biệt dành cho những dân tộc không phải Việt Nam mà sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam (....)

2 - Vấn đề ngoại giao
2.1  - Số người đại diện Việt Nam trong Thượng hội đồng Liên hiệp Pháp sẽ được quy định sau, với sự thoả thuận của chính phủ Việt Nam.
2-2 - Chính phủ Pháp đồng ý để Việt Nam gửi tức khắc đại diện ngoại giao đến các nước sau đây : Toà thánh Vatican, Trung Hoa, Thái lan.
Nếu vì những biến chuyển mới đây ở Trung Hoa mà Việt Nam muốn đặt đại diện ở một nước khác, Chính phủ Pháp thấy không có gì cản trở để thay thế nước Trung Hoa bằng nước Ấn Ðộ.
Tất cả những sự thay đổi trong điều khoản này phải được sự thoả thuận trước của chính phủ Pháp.
2.3 - Các nhà đại diện ngoại giao Việt Nam, trực thuộc phái bộ ngoại giao Pháp, sẽ do chính phủ Pháp uỷ nhiệm do sự đề cử của chính phủ Việt Nam.
Họ chỉ đặc biệt coi về những vấn đề liên quan đến Việt Nam. Họ có thể liên lạc với chính phủ Việt Nam qua trung gian của Trưởng phái bộ ngoại giao Pháp và tiếng Pháp được sử dụng chính thức.
24 - Những điều khoản này cũng áp dụng cho những Lãnh sự Việt Nam ở những nước không có đại diện ngoại giao Việt Nam. Những vị đó hoạt động dưới sự điều động của Ðại diện ngoại giao Pháp
2.5 - Trong những cuộc điều đình giữa Việt Nam với nước ngoài để ký những thoả hiệp liên quan đến quyền lợi riêng của Việt Nam, sự "liên lạc" với Phái đoàn ngoại giao Pháp gồm có sự thành lập bắt buộc những phái đoàn hỗn hợp Việt Pháp, và trong mỗi trường hợp, tuy rằng phái đoàn Việt Nam vẫn được tự do hành động và chịu hoàn toàn trách nhiệm, sự thiết lập một hệ thống thông tin giữa hai phái đoàn để nếu trường hợp xảy ra, cơ quan ngoại giao Liên hiệp Pháp có thể ủng hộ phái đoàn Việt Nam trong tất cả những sự khó khăn hay những sự bất ngờ trầm trọng có thể xảy ra trong lúc điều đình.
Tôi xin Hoàng Thượng nhận nơi đây lòng kính trọng của tôi.
Ký tên : Vincent Auriol

*
Cuộc trưng cầu dân ý :
sáp nhập Nam Kỳ vào Việt Nam

Ngày 10 tháng 4-1949, một cuộc bầu cử hạn chế gồm 700 cử tri Pháp và 1.000 cử tri Việt Nam đề cử một Quốc hội Nam kỳ gồm 16 nghị sĩ Pháp và 48 nghị sĩ Việt Nam. Cuộc Trưng cầu dân ý về việc sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam được tổ chức ngày 23-4-49, Quốc hội Nam kỳ đại diện toàn dân đồng thanh biểu quyết sáp nhập xứ Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam.
Kết quả cuộc trưng cầu dân ý này làm Bảo Ðại hài lòng và ngày 24 tháng 4-1949, Cựu Hoàng đáp máy bay về nước, đến ngày 28 thi tới Ðà lạt.
Ngày 3-6-49, Quốc hội Pháp chấp nhận việc sáp nhập Nam Kỳ vào lãnh thổ Việt Nam.
Ngày 14-6-49, tại toà Ðô sảnh Sài gòn, Bảo Ðaị và Cao ủy Pignon ký những văn kiện chính thức hợp thức hoá tiền ước Élysées. Nhân dịp đó Bảo Ðại nhận quyền điều khiển chính phủ, hiệu triệu quốc dân, hứa cải tiến xứ sở trên mọi phương diện và kêu gọi mọi người phụng sự Quốc gia.

Trở lại vấn đề  quân sự.

Sau cuộc hành quân lớn kết thúc cuối năm 1947, thì đầu tháng 2-1948 tướng Valluy từ chức xin về Pháp, Bollaert cử tướng Salan quyền Chỉ huy trưởng các Lực lượng Pháp ở Ðông Dương.
Tại Bắc Kỳ, đại tá Gonnet tạm thay tướng Salan. Tại Nam Kỳ tướng Boyer de la Tour thay thế tướng Nyo. Tại Trung Kỳ tướng Le Bris và tướng Lorillot chỉ huy Trung và nam Trung kỳ.

Quân lực Pháp đầu năm 1948, trên toàn thể Ðông Dương lên tới 110.000 người, gồm 62 tiểu đoàn bộ binh, các đội thiết giáp, pháo thủ, 25 toán lính địa phương và giáo phái, 3 tiểu đoàn nhảy dù, 32 tiểu đoàn địa phương, 6 tiểu đoàn đặc biệt Lào Thái, 8 tiểu đoàn Lê dương, 6 tiểu đoàn Sê-nê-ga-le, 13 tiểu đoàn Bắc phi. Không quân gồm 45 máy bay chuyên chở trong số có 20 chiếc bị hư không bay được, 30 máy bay Spitfire trong số có 12 chiếc bị hư, 50 chiếc máy bay Morane trong số có 20 chiếc bị hư, trực thăng không có chiếc nào.
Sự thiệt hại về nhân mạng từ lúc khởi sự chiến tranh  là 9.200 người chết, 19.000 người bị thương.
Tháng 5 năm 1948, tướng Blaizot được chính thức cử giữ chức Chỉ huy trưởng các lực lượng viễn chinh Pháp, thực thụ thay thế tướng Valluy, tướng Salan về Pháp, tướng Chanson được cử giữ chức chỉ huy ở Bắc Kỳ.
Suốt năm 1948 đến tháng 9 năm 1950, chiến cuộc không có gì sôi động, không có một hành quân nào quan trọng của Pháp cũng như không có một cuộc phản công nào quan trọng của Việt minh. Pháp chú trọng đặt các đồn bót kiểm soát các vùng đất đai và trục giao thông đã chiếm được và tổ chức các lính phụ lực bản xứ hay các giáo phái ở Nam kỳ để bình định các vùng nông thôn. Tuy nhiên ngoại trừ các thành phố và thị trấn lớn mà sự hiện diện của Việt minh không lộ liễu, còn thì tại các làng mạc, xã, quận, ảnh hưởng của Pháp chỉ có tại chung quanh các đồn bót kể từ lúc mặt trời mọc, còn từ lúc mặt trời lặn thì lại thuộc về Việt minh.
Những sự đánh phá đồn bót, những sự phục kích, chạm súng, ám sát lẻ tẻ xảy ra hàng ngày.



Việc tiết lộ tờ trình tối mật của tướng Revers
Trong thời gian này, tại Pháp xảy ra một sự tiết lộ bí mật quân sự liên quan đến các cấp chỉ huy quân sự cao cấp của Pháp làm lung lay nền tảng đệ tứ Cộng hoà Pháp.
Tháng 5 năm 1949, đại tướng 5 sao Revers được thủ tướng Queuille  đặc cử sang Ðông Dương để nghiên cứu tình hình. Ðại tướng Revers là Tổng tham mưu trưởng Lục quân Pháp, vừa đại diện nước Pháp ký kết thoả ước Bắc Ðại tây Dương ngày 24-8-48. Revers chưa bao giờ làm việc ở Ðông Dương hay ở các thuộc địa khác.
Ngày 16-5-49, máy bay chở Revers đáp xuống Sàigòn. Trong 5 tuần lễ liền, Revers đi khắp nơi, gặp các nhân vật cao cấp quân và dân sự Pháp cũng như đại diện các nước Việt Miên Lào. Ðến ngày 17-6-49 thì kết thúc cuộc điều tra, ngày 21-6-49 Revers về tới Pháp.
Ngày 29-6-49, Revers làm xong bản tường trình, đề nghị nhiều biện pháp quan trọng đối với nhiều vấn đề đã nghiên cứu. Bản tường trình được in mật, in khẩn cấp ngày đêm, do sở An ninh Quân đội bảo vệ, in thành 50 bản có đánh số thứ tự và được xếp vào hạng tài liệu quốc gia Tối Mật (Ultra Secret). Ngày 4-7-49, hồi 16 giờ thì in xong. Revers gửi 33 bản cho các nơi liên hệ, giữ lại 3 bản trong văn phòng, cất gửi 14 bản còn lại trong một cơ quan cẩn mật có canh gác.
Ngày 15-7-49, Revers đưa cho tướng Mast mượn bản số 27 giữ trong văn phòng. Tướng Mast là Giám đốc trường Cao đẳng Quốc phòng, tướng Mast trả lại ngày 27-7-49.
Nội dung bản tường trình của Revers nói những gì ?
"Ðối với đoàn quân viễn chinh, Revers nhận thấy đoàn quân này không được huấn luyện và chuẩn bị chống chiến tranh du kích, Revers đề nghị phải có nhiều chuyên viên để huấn luyện chiến thuật chống du kích.
"Về vấn đề chỉ huy, Revers nhận xét sự bất hoà thường xảy ra giữa vị Cao ũy và vị Chỉ huy quân viễn chinh (bất hoà giữa Leclerc và d'Argenlieu, bất hoà giữa Valluy và Bollaert), không kể trường hợp "tréo cẳng ngỗng" đặc biệt giữa Cao ủy Pignon và tướng Blaizot [4] Revers đề nghị, để cho công việc tiến hành hữu hiệu, Chính phủ cử một nhân vật quân sự vừa kiêm chức Cao ủy vừa giữ chức Chỉ huy đoàn quân viễn chinh, nhân vật này sẽ do Bộ trưởng bộ Quốc gia Liên kết đề cử ra.
"Về vấn đề quân số thì không thể tăng quân số cho đoàn quân viễn chinh được nhưng sẽ tăng tiếp tế quân cụ và khí giới đạn dược (do Mỹ viện trợ) và tăng viện những cơ quan an ninh đặc biệt về phản gián.
 "Vấn đề chiến lược thì thu hẹp lãnh thổ chiếm đóng, tận dụng tối đa lực lượng hiện có ở Bắc việt, giữ vững vòng đai an ninh. Mở những cuộc hành quân trong vùng lãnh thổ thu hẹp, với những lực lượng đặc biệt, để chiếm lại những đất đai đã bị Việt minh xâm nhập.
"Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo Ðại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Ðại là một 'chế độ ung thối với sự tham nhũng, những sự buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những vụ gá chứa cờ bạc đĩ điếm’ [5].
Revers chỉ trích thái độ Pháp hay thay đổi làm nhiều người có thiện chí nghi ngờ nên không thật tình hợp tác".
Ðó là tóm tắt những vấn đề chính của tờ trình tối mật của Revers.

Diễn tiến việc tiết lộ

Một tháng sau ngày Revers gửi tờ tường trình lên chính phủ Pháp, ngày 27-8-49, bộ Tư lệnh Pháp ở Ðông Dương bắt đuợc luồng sóng điện ra-đi-ô VNA2 phát thanh từ vùng Rangoon, Miến Ðiện và do đài Phát thanh Tiếng nói VN của Việt minh truyền đi nguyên văn tờ trình đó. Bộ Tư lệnh Ðông Dương khẩn báo cho Coste Floret và Chính phủ Pháp.
Ngày 17-9-49,  trên một xe buýt tại nhà ga xe lửa Lyon ở Paris, một quân nhân Pháp và hai người Việt Nam đánh lộn. Cảnh sát dẫn cả ba người về bót để điều tra.
Trong cái cập xách tay của một người Việt Nam tên là Ð. Ð., khai là sinh viên Việt Nam tại Pháp, cảnh sát khám thấy bản sao nguyên văn tờ trình tối mật của Revers. Cảnh sát báo động các cơ quan an ninh và phản gián. Trong cuộc thẩm vấn, Ð. Ð. khai những tài liệu nhận được do hoạ sĩ M. đưa cho. M. khai do V. một người thuộc hoàng tộc đưa cho. V. khai do Trần ngọc Danh đại diện Việt minh ở Pháp đưa cho.
Ngày 20-9-49, Ban phản gián tới khám xét trụ sở đại diện Việt minh tại Pháp tìm thấy 3 bản tường trình Revers đánh máy và 38 bản in rô-nê-ô tờ tường trình tối mật Revers, một cuốn sổ chi tiêu, một cuốn sổ ghi các địa chỉ và cuốn chi phiếu ngân hàng. Cuốn sổ chi tiêu ghi những số tiền lớn đã đưa cho nhiều người Pháp trong giới chính trị và kinh doanh. Hoàng văn Cơ người trách nhiệm cơ quan Ðại diện Việt minh tại Pháp khai một người Pháp tên là P. đã trao cho y bản tường trình tối mật Revers ngày 19-7-49 tại nhà tướng Mast sau bữa cơm do tướng Mast thết đãi. Hoàng văn Cơ gửi về Việt Nam một bản tường trình đánh máy và sắp sửa gửi các bản in rô-nê-ô cho các cơ quan Việt minh.
Trong cuộc thẩm vấn, P. xác nhận có trao cho Hoàng văn Cơ bản tường trình mật Revers tại nhà tướng Mast và có nhận tiền của Cơ trao cho ba lần tổng cộng 2,5 triệu quan Pháp. Số tiền này, P. đưa cho tướng Mast một triệu để vận động làm Cao uỷ Pháp tại Ðông Dương, trao cho tướng Revers cũng một triệu quan Pháp để chi phí tiếp tân với mục đích trên, và 500 ngàn quan Pháp cho L.T. để thù lao trong những cuộc vận động cùng trong một mục đích.
Khám nhà P. thấy một hồ sơ liên hệ tới tướng Mast gồm thư từ, điện tín Mast gửi cho P, một hồ sơ đề tên Hồ sơ Revers gồm thư từ Revers viết cho P, chứng cớ sự giao thiệp thân mật giữa P. và hai vị tướng đó.
Tuy cuộc điều tra của ban phản gián với những chứng cớ rõ rệt như vậy, nhưng chỉ hai ngày sau khi bị giam giữ để thẩm vấn, Cơ và P. đều được trả tự do, trao trả các tài liệu tịch thu cho các đương sự, không một ai bị truy tố ra toà án.
Vài ngày sau Tổng trưởng Ramadier ra thông cáo nói không coi những giấy tờ tiết lộ là bí mật quốc phòng, toà án không thụ lý vì vô cớ, các bị can được chính thức trả tự do.


Câu chuyện tiết lộ đó xẹp lại cho đến tháng giêng năm 1950 thì lại bùng trở lại do tờ báo Mỹ, Times, khơi ra ngày 16-12-49 trong một bài đả kích Revers một cách tàn nhẫn. Quốc hội Pháp cử một Uỷ ban điều tra. Ngày 23-11-50, Quốc hội họp phiên khoáng đại. Uỷ ban điều tra xác nhận rằng những tài liệu tiết lộ đó (Tường trình mật Revers) là những tài liệu tối mật và quan trọng cho quốc phòng, tuy nhiên Tổng trưởng Ramadier đã hành động đúng vì lợi ích và bí mật quốc gia, nhưng có những sự sai lầm về thể thức hành chính.
Những số tiền P. đưa cho Mast không có chứng cớ, hai tướng Mast và Revers không bị liên can nhưng cũng bị chính phủ cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng Tối cao Quân lực.

Trở lại vấn đề quân sự ở Ðông Dương

Sau khi tướng Revers điều tra tình hình từ Ðông Dương trở về Pháp thì ngày 30-6-49, tướng Blaizot Chỉ huy trưởng Ðoàn quân Viễn chinh ra lệnh tổ chức chặt chẽ phòng vệ biên giới Hoa VViệt nhất là vùng Móng Cáy và Thất Khê và sửa soạn cho quân lính triệt thoái khỏi Cao Bằng và Ðông Khê, cuộc triệt thoái dự định khởi sự ngày 19-9-49 và phải chấm dứt trước ngày 10-10-49.
Cuộc triệt thoái chưa khời sự thì ngày 10-9-49 tướng Blaizot bị triệu hồi về Pháp, tướng Carpentier sang thay thế trong chức vụ Chỉ huy trưởng Ðoàn quân viễn chinh.
Carpentier không áp dụng chiến thuật của  Blaizot và của Revers.                                                 
Carpentier và Alessandri [6] đều đồng ý giữ quân ở Cao Bằng, Ðông Khê, không rút lui, và tiếp tục công cuộc bình định những phần lãnh thổ khác do Pháp kiểm soát.
Thời gian này, Việt minh đang chuẩn bị các đơn vị lớn cỡ sư đoàn nên Việt minh án binh bất động, tình hình quân sự khắp nơi được yên tịnh. Quân số Pháp được tăng lên tới 190.000 người, kể cả phụ lực. Cộng với quân đội mới thành lập của các quốc gia liên kết Việt, Miên, Lào khoảng 125.000 người thì tổng số quân ở Ðông Dương vào đầu năm 1950 lên tới 315.000 người.
Về khí giới thì Mỹ viện trợ 48 máy bay khu trục, 8 máy bay vận tải, các tàu nhỏ đổ bộ, quân trang và võ khí cá nhân đủ trang bị 12 tiểu đoàn Việt nam.

Ðường thuộc địa số 4(RC4) bỏ ngỏ
Tình hình yên tịnh cho đến ngày 17-9-50, đồn Ðông Khê bị mất. Pháp thiệt hại 350 lính Lê dương giữ đồn và mất nhiều khí giới. Ðoàn quân Pháp do đại tá Charton chỉ huy rút lui khỏi Cao Bằng bị huỷ diệt. Lạng Sơn bỏ chạy không kịp mang theo đạn dược khí giới, tinh thần quân đội Pháp khắp nơi suy sụp đến nỗi có những toan tính bỏ cả Hànội.
Ðường thuộc địa số 4 (RC4) từ Lạng Sơn lên Cao Bằng được Pháp chiếm đóng trong cuộc hành quân LÉA hồi tháng 10-1947 để giữ vùng biên giới Hoa Việt. Từ Lạng Sơn lên Cao Bằng, đường dài 116 cây số xuyên qua rừng rậm núi cao, Pháp đặt những đồn lớn ở các thị trấn như Lạng Sơn, Ðồng Ðăng, Na Chàm, Thất Khê, Na Ra, Ðông Khê, và  Cao Bằng, và những đồn nhỏ rải rác  chung quanh.
 Bản đồ đường thuộc địa số 4 (RC4)

- Cao Bằng có 3 tiểu đoàn vừa Lê dương vừa Ma-rốc và nhiều lính phụ lực bản xứ do đại tá Charton phụ trách, trực thuộc Bộ chỉ huy vùng đặt tại Lạng Sơn do đại tá Constans chỉ huy.
- Lạng Sơn có 5 tiểu đoàn lính Pháp, thiết giáp, trọng pháo và nhiều lính phụ lực bản xứ.
- Ðông Khê ở cách Cao Bằng 30 cây số phía đông nam, có hai đại đội Lê dương canh giữ dưới quyền của hai đại uý Vollaire và Allioux
- Thất Khê ở cách Ðông Khê khoảng 20 cây số có một đại đội trấn giữ.
- Na Chàm có một đại đội do Ðại úy Mattéi và trung úy Aluzot chỉ huy.
Sáng sớm ngày 16-9-50, đồn Ðông Khê liên tiếp bị  pháo kích bằng trọng pháo. Ðại uý Vollaire điện về Cao Bằng yêu cầu  không quân yểm trợ. Charton chuyển lời yêu cầu về Lạng Sơn cho Ðại tá Constans nhưng thời tiết xấu quá phi cơ không cất cánh được. Charton muốn gửi quân tiếp viện xuống Ðông Khê giải vây nhưng Constans không đồng ý,  Ðông Khê bị bỏ mặc không được tiếp cứu. Sáng sớm ngày 17-9-50, Charton cũng gửi một đại đội Lê dương từ Cao Bằng xuống Ðông Khê để thăm dò, đại đội này đi được khoảng 15 cây số thì Charton nhận được báo cáo cuối cùng của Ðông Khê cho biết khoảng 1.500 quân Việt minh đang tấn công vào đồn và quân phòng thủ đã tử trận gần hết, đồn sắp bị mất vào tay quân địch. Ít phút sau trạm phát thanh Radio Ðông Khê im bặt, Ðông Khê đã bị tràn ngập, 350 lính Lê dương tử trận, đạn dược khí giới bị mất nhiều vô số kể, chỉ có 9 người thoát chết băng rừng lội suối 9 ngày sau mới tới được Thất Khê (cách 20 cây số) quần áo tả tơi, đói khát, kiệt lực.
Bộ Chỉ huy Bắc Kỳ và tướng Alessandri lo ngại. Một đạo quân gồm ba tiểu đoàn lính Ta-bo và lính Ma-rốc do trung tá Lepage chỉ huy được gửi lên Thất Khê, một tiểu đoàn nhảy dù do đại úy Jean Pierre và trung uý Faulque được thả xuống Thất Khê để tiếp viện và chặn giữ Việt minh khỏi tràn xuống Lạng Sơn.

Carpentier và Alessandri bàn tính rút quân khỏi Cao bằng. Một kế hoạch rút quân được nghiên cứu :
- Charton theo ngả đường thuộc địa số 4 rút từ Cao bằng về Ðông Khê,
- Lepage từ Thất khê lên tái chiếm Ðông khê rồi cả hai cùng rút về Lạng Sơn,
- Ðồng Ðăng, Na Chàm cũng rút về Lạng sơn
- Bỏ ngỏ đường thuộc địa số 4 (RC4) cho Việt Minh

Kế hoạch được giữ bí mật tuyệt đối.
Lệnh triệt thoái chỉ ban bố mấy giờ đồng hồ trước khi thi hành để khỏi tiết lộ, sợ Việt minh đánh chặn cuộc rút quân.
Ðể tránh sự nghi ngờ của Việt minh, sau khi Ðông Khê thất thủ, Carpentier và Alessandri liên tiếp đáp máy bay đáp xuống Cao Bằng để làm yên lòng dân chúng và binh sĩ. Ngay cả Charton chỉ huy Cao Bằng cũng không được biết kế hoạch rút lui.
Ngày 30-9-50, Lepage được lệnh từ Thất Khê lên tái chiếm Ðông Khê và phải hoàn tất nhiệm vụ trước 12 giờ trưa ngày 2-10-50. Cánh quân Lepage gồm tiểu đoàn pháo thủ 8 Ma-rốc do thiếu tá Arnaud chỉ huy, tiểu đoàn 11 lính Ta-bo do thiếu tá Delcros chỉ huy, tiểu đoàn 1 lính Ta-bo do đại úy Feaugas chỉ huy, và tiểu đoàn dù số 1 BEP do đại uý Jean Pierre chỉ huy.
Sáng sớm ngày 2-10-50, Lepage chuyển quân.
Tiểu đoàn dù đi tiền phong, đến đồn Na-Pa hiện bỏ trống, cách Ðông Khê khoảng 6 cây số thì chạm địch. Cả chục tiểu đoàn Việt minh chờ quân dù xuống lòng chảo,  mới ở trên các ngọn đồi và từ đồn Na-Pa nổ súng xuống. Trọng pháo, liên thanh, moọc-chi-ê nổ liên hồi vào đầu quân nhảy dù. Ngay những phút đầu, tiểu đoàn dù đã thiệt hại một phần ba nhân mạng. Lepage vội vàng ra lệnh ngưng tiến, ra lệnh cho quân dù còn lại cố cầm chân quân Việt minh để Lepage tìm đường khác xuyên qua rừng. 
Ngay lúc đó thì Lepage nhận được lệnh viết từ máy bay thả xuống hủy bỏ lệnh tái chiếm Ðông Khê. Lepage phải đi tiếp viện đoàn quân của Charton từ Cao Bằng xuống. Lepage dẫn quân vào rừng, tránh đường số 4 và tránh xa Ðông Khê, để tiến lên phía Cao Bằng. Quân Lepage xuyên rừng xuyên núi tiến về phia tây bắc, bị quân Việt minh đuổi theo sát hại, ba ngày sau Lepage tới lòng chảo Cốc Xá, cách 5 cây số về phía tây nam Ðông Khê, mới liên lạc được với toán quân Charton ở Cao Bằng xuống và hẹn gặp nhau ở Cốc Xá.
Trong lúc đó tiểu đoàn dù bị sát hại nặng nề, còn khoảng 300 người đói rách, lẩn trốn quânViệt minh,và cũng được lệnh tới Cốc Xá để họp với Lepage.
Charton rời Cao Bằng đêm 2-10-50. Trưa hôm đó, ra lệnh phá huỷ hết các kho trại, các khí giới nặng không mang theo được và những điểm chiến lược quan trọng trong thành phố Cao Bằng được ban bố.
Dân chúng khoảng 15 ngàn người được thông báo là ai muốn rút lui theo đoàn quân Pháp thì cho theo. Nửa đêm 2-10-50 tất cả đoàn quân trú phòng khoảng 15 ngàn binh sĩ cộng vói 15 ngàn dân chúng, một phần do xe cam-nhông chở, một phần đi bộ, bắt đầu di tản. Ðoàn công-voa dài 3 cây số, di chuyển chậm chạp, hai ngày sau, ngày 4-10,  mới đi được khoảng 17 cây số.
Lúc bấy giờ Charton được tin đoàn quân Lepage ở phía dướí lên đang bị đánh và phải bỏ đường số 4, xuyên rừng để lên gặp Charton.
 Charton ra lệnh hủy bỏ các thứ nặng cồng kềnh, bỏ tất cả xe cam-nhông, trọng pháo, bỏ đạn dược, quân nhu, lương thực v.v... chỉ mang theo hai ngày lương thực, băng rừng xuống mạn tây nam để gặp đoàn quân Lepage. Tất cả đồ đạc của đám dân sự, phần lớn là người Tàu, nguời Thổ đen, cũng bị đốt hết để di chuyển cho lẹ. Charton truyền lệnh ai đi chậm không theo kịp thì bị bỏ lại. Charton cho quân theo con đường mòn song song với đường thuộc địa  RC4, từ Nam Nang, cách Cao Bằng 17 cây số, qua Na Luông, Quang Liệt, tránh Ðông Khê, đi về phia Thất Khê. Hai ngày sau, ngày 6-10 đoàn quân Charton tới Cốc Xá là điểm hẹn gặp với quân của Le Page. Dọc đường, nhiều người dân bị bỏ lại, 15 ngàn binh sĩ thì còn nguyên vẹn, chưa chạm súng với Việt minh lần nào.
Nửa đêm 6 rạng ngày 7-10, khi hai đoàn quân sửa soạn rời Cốc Xá để di chuyển về Thất Khê thì hoả lực trọng pháo, hoả lực đại và trung liên của 30.000 lính Việt minh nổi lên, liên hồi, tứ phía, tiếp theo là những trận giáp chiến đánh sáp-la-cà. Lính Pháp bị bất ngờ và lại bị ở vị trí bất lợi, bị sát hại và bị bắt gần hết. Bảy ngàn quân của Charton và Lepage  chỉ còn khoảng 600 người đói khát, mệt lả, trốn thoát về Thất Khê hai ngày sau (trong số đó, tiểu đoàn dù BEP số 1, hơn 1.000 người chỉ còn sống sót được 23 người).

Charton và Lepage bị bắt. Các sĩ quan khác bị bắt và tử trận hết chỉ thoát được có một mình đại úy dù Jean Pierre (chỉ huy tiểu đoàn dù BEP số 1) chạy về được Thất Khê.
Bốn ngày sau, ngày 11-10, đến lượt Thất Khê rút lui bỏ nguyên vẹn đồn bót, súng ống đạn dược cho quân địch. Tiểu đoàn 3 com-măng-đô đi chặn hậu để bảo vệ cuộc rút lui bị sát hại và bị bắt hết chỉ còn 5 người thoát được về Lạng Sơn.
Ngày 15-10, Na Chàm thất thủ sau một tuần chiến đấu. Ðồng Ðăng rút lui bỏ chạy.
Con đường thuộc địa số 4 từ Cao Bằng đến Lạng Sơn bị Việt minh chiếm trọn vẹn và quân trú phòng Pháp đóng ờ Lạng Sơn cũng sửa soạn rút lui.
 Tổng số thiệt hại Pháp trong gần hai tuần lễ tại đường thuộc địa số 4 (RC4) là 7.000 người lính Pháp, lính lê-dương và lính Bắc phi, 1.000 lính pạc-ti-dăng, 2.000 súng đại liên, trung liên, 8.500 súng cá nhân, 450 xe cam-nhông, 13 trọng pháo, 120 súng moọc-chi-ê , ba tiểu đội thiết giáp.[7]
Tinh thần tướng sĩ Pháp suy sụp, không khí hoảng sợ lan tràn khắp nơi.
Ðại tá Constans chỉ huy Lạng Sơn với 5 tiểu đoàn, đề nghị triệt thoái khỏi Lạng Sơn trước khi Việt minh tới để bảo vệ quân số và khí giới.
Hai tướng Alessandri và Carpentier chấp thuận.
Ðêm 17 rạng ngày 18-10, Constans ra lệnh quân sĩ lên đường, hấp tấp chạy không kịp phá huỷ gì, bỏ lại nguyên vẹn thành phố Lạng Sơn, doanh trại, kho quân nhu, đạn dược, thực phẩm, chỉ mang theo trọng pháo và số xe cam-nhông chuyên chở.
Hai ngày sau, đoàn quân Constans về đến Chợ Chu, địa đầu của đồng bằng, rồi di chuyển về phía Lục Nam, Phả Lại.
Sau đó, đoàn quân của đại tá Coste đóng ở Lao Kay cũng rút về phía Lai Châu vào đầu tháng 11-1950
________________________________________________
   CHÚ THÍCH BÀI SỐ 6                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   
[1] Về sau có một tin nói rằng : "Hồ chí Minh và Võ nguyên Giáp nấp sau một bụi cây khi quân Pháp đi tới, Giáp tưởng sẽ bị bắt, may mà quân Pháp đi qua không trông thấy nên hai người thoát được."
[2] Những con số tổn thất củ hai bên trong nhựng trận đánh kể ra trong suốt tập tài liệu ‘45-54 chin năm khói lửa’ đều  căn cứ vào những tài liệu Pháp.
[3] Tạm ước ký ngày 5-6-48 tại Vịnh Hạ Long giữa Bollaert và Nguyễn văn Xuân
[4] Năm 1946, Blaizot là tướng chỉ huy một đạo quân Pháp đóng ở Ấn độ, Pignon lúc bấy giờ làm dưới quyền Blaizot. Năm1949, Pignon được cử giữ chức Cao uỹ Pháp ở Ðông dương. Blaizot lại là Chỉ huy trưởng đoàn quân viễn chinh Pháp, thành ra Blaizot bị đặt dưới quyền Pignon và phải nhận chỉ thị của Pignon.Thật là một trường hợp ‘tréo cẳng ngỗng’ khó sừ cho cả đôi bên.
[5] Trung tâm du hí Ðại Thế Giới (Grand Monde) ở Chợ Lớn là một trung tâm hợp pháp được chính quyền thời bấy giờ cho phép mở công khai đánh bạc và chứa gái mại dâm.
[6] Alessandri là tướng phụ trách quân sự ở Bắc Kỳ.
[7] Theo tài liệu của Pháp

+